TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 456/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/11/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B- TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Thiều Thị Phi Loan
Ông Trần Văn Chánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2236/2024/TLST – HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 398/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/11/2024:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1998
Địa chỉ thường trú: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ tạm trú: tổ B, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
-Bị đơn: Ông Đoàn Khắc H, sinh năm 1998
Địa chỉ thường trú: tổ H, C, B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ tạm trú: tổ B, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T, ông H có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đoàn Khắc H tự nguyện sống chung với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Được cấp Giấy chứng nhận theo đúng quy định pháp luật vào năm 2022. Quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình
không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Bà và ông Đoàn Khắc H đã tự hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện nay bà đã chuyển ra ngoài sinh sống, không còn sống chung nhà với ông H nữa. Xét thấy, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Hiện nay bà không còn tình cảm ông H nên xin ly hôn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông H có 01 con chung là Đoàn Lê Ngọc H1, sinh ngày 09/11/2021. Ly hôn, hiện cháu H1 còn nhỏ nên bà có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu H1. Tạm thời, bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng cho con chung.
Về tài sản chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Theo bản tự khai của ông Đoàn Khắc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lê Thị T đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai vào năm 2022, hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống thì ông và bà T có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên nay bà T xin ly hôn thì ông H đồng ý.
Về con chung: Có 01 con chung là Đoàn Lê Ngọc H1, sinh năm 09/11/2021. Hiện nay con còn nhỏ nên ông H đồng ý giao cháu H1 cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời, ông không cấp dưỡng cho con chung.
Về tài sản chung: Ông H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị T.
Về con chung: giao cháu Đoàn Lê Ngọc H1, sinh năm 09/11/2021 cho bà Lê Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời, ông Đoàn Khắc H không phải cấp dưỡng cho con.
Tài sản chung: Đương sự trình bày không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà T chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Bà Lê Thị T nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Đoàn Khắc H, có địa chỉ cư trú tại phường L, thành phố B ,tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Qua nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, ông Đoàn Khắc H có cung cấp bản tự khai và có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đưa ra xét xử vắng mặt bà T và ông H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Theo bà Lê Thị T trình bày thì bà T và ông H tự nguyện tìm hiểu và đi đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Được cấp Giấy chứng nhận theo đúng quy định pháp luật vão năm 2022, hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm. Cả hai đã không còn tôn trọng lẫn nhau, nhiều lần cả hai cùng ngồi lại vì không muốn hạnh phúc gia đình tan vỡ, cố gắng giải quyết mâu thuẫn nhưng vẫn không có kết quả. Ông H cũng thừa nhận trong quá trình chung sống thì ông và bà T có xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Tòa án đã nhiều lần hòa giải cho hai vợ chồng nhưng bà T vẫn kiên quyết xin ly hôn, cho thấy bà T không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân của bà T – ông H không hạnh phúc trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không có khả năng hàn gắn. Do vậy, việc bà Lê Thị T xin ly hôn với ông Đoàn Khắc H là hoàn toàn có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống ông H và bà T có 01 con chung là Đoàn Lê Ngọc H1, sinh năm 09/11/2021. Ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, ông H cũng đồng ý giao các con cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Do đó, giao cháu H1 cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Tạm thời, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Các đương sự đều khai tự không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5]. Về nợ chung: Các đương sự đều khai không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà Lê Thị T phải nộp 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng Điều 9, Điều 19; Điều 53, Điều 56; Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T. Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Đoàn Khắc H.
- Về con chung: Giao cháu Đ Lê Ngọc H1, sinh năm 09/11/2021 cho bà Lê Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; Tạm thời, ông Đoàn Khắc H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Vì không trực tiếp nuôi con, nên ông H được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Các đương sự đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Các đương sự đều khai không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị T phải nộp 300.000đ án phí, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0004072 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà L đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị T, ông Đoàn Khắc H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trần Nhàn |
Bản án số 456/2024/HNGĐ-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 456/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà T xin ly hôn với ông H
