|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 456/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29 – 10 - 2024
V/v "Ly hôn, tranh chấp về chia tài sản chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Hữu Bằng
Ông Cao Thanh Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Tuyền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trường Minh Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 433/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 278/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đinh Thị X, sinh năm 1950 (CM)
Địa chỉ: khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định
Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1945 (CM)
Địa chỉ: khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn định B, sinh năm 1987 (CM)
Địa chỉ: khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1983 (VM)
Địa chỉ: Thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
UBND phường T (VM)
Địa chỉ: Phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 10 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Đinh Thị X trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Vợ chồng bà đi đến hôn nhân từ năm 1983, không có đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương. Hai vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Á, sinh năm 1983 và Nguyễn Định B, sinh năm 1987. Sau thời gian sống chung hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, năm 2000 bà có đơn ly hôn nộp đến Tòa án nhưng lúc đó Tòa án không cho bà ly hôn, nhưng từ năm 2001 đến nay hai vợ chồng bà cũng hoàn toàn không chung sống với nhau. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Xuân H. Các con đã trưởng thành có gia đình riêng bà không yêu cầu gì.
Về tài sản chung: Trong quá trình làm việc và tại phiên Tòa hôm nay bà xin rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung.
* Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Xuân H trình bày:
Về quá trình đi đến hôn nhân và con chung ông thống nhất như bà X trình bày. Năm 2000, bà X đã nộp đơn ly hôn đến Tòa án nhưng Tòa án không cho hai vợ chồng ly hôn, nhưng cũng từ đó đến nay ông và bà X không sống chung với nhau. Tuy nhiên, nay bà X yêu cầu ly hôn ông không đồng ý ly hôn. Lý do, bà X trình bày không đúng thực tế về sự mâu thuẫn của hai vợ chồng, còn nếu bà X muốn về chung sống với ông thì phải sống cho đúng đạo lý.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, lâu nay các con do ông nuôi dưỡng, hiện nay các con đã trưởng thành có gia đình riêng.
Về tài sản chung: Ông xin rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Á trình bày: Chị Á là con của bà Đinh Thị X, ông Nguyễn Xuân H. Lâu nay cha mẹ chị không sống chung với nhau, nay bà X yêu cầu ly hôn thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật. Về tài sản chung: Chị không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn định B trình bày: Anh là con của bà Đinh Thị X, ông Nguyễn Xuân H. Lâu nay cha mẹ anh không sống chung với nhau, nay mẹ anh yêu cầu ly hôn thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật. Về tài sản chung: Để gia đình anh tự giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án vẫn còn vi phạm trong thời hạn chuẩn bị xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đinh Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Xuân H.
+ Về nuôi con chung: Hai con chung đã trưởng thành Tòa không xét.
+ Về tài sản chung: Đề nghị đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của bà X và ông H.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà X được miễn nộp án phí hôn nhân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Đinh Thị X yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn giải quyết ly hôn, chia tài sản khi ly hôn với ông Nguyễn Xuân H, do đó xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn”; bị đơn ông Nguyễn Xuân H có hộ khẩu thường trú tại Khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Đinh Thị X và ông Nguyễn Xuân H là vợ chồng hợp pháp vì đã chung sống thực tế từ năm 1983. Năm 2000, bà X đã nộp đơn ly hôn, nhưng đã bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn (nay là thị xã H) không chấp nhận cho ly hôn. Sau lần ly hôn năm 2000, bà X và ông H mặc dù không được cho ly hôn, nhưng cả hai đã không còn chung sống với nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau, đến nay đã 24 năm. Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa bà X và ông H đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà X yêu cầu được ly hôn với ông H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Hai con của bà X và ông H là chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1983 và anh Nguyễn định B, sinh năm 1987 đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không xét.
[2.3] Đối với yêu cầu chia tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa hôm nay bà X rút yêu cầu chia tài sản chung, ông H rút yêu cầu phản tố chia tài sản chung. Căn cứ Điều 244, Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của bà X và ông H.
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Đinh Thị X là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí hôn nhân.
Đối với án phí chia tài sản chung: Bà X và ông H là người cao tuổi, không phải nộp tạm ứng án phí chia tài sản chung, nên không xử lý về tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung khi đình chỉ yêu cầu của bà X, ông H.
Chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ: Bà X phải chịu (đã nộp xong).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm c, khoản 1, Điều 217; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Đinh Thị X, bà Đinh Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Xuân H.
2. Về nuôi con chung: Các con chung của bà X và ông H đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không xét.
3. Về chia tài sản: Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của bà X do bà X rút yêu cầu.
Đình chỉ yêu cầu phản tố chia tài sản chung của ông Nguyễn Xuân H do ông H rút yêu cầu.
4. Về án phí: Án phí về hôn nhân và gia đình: Bà X là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí Hôn nhân gia đình.
Án phí chia tài sản chung: Bà X và ông H là người cao tuổi, được miễn nộp tạm ứng án phí chia tài sản chung, do vậy Hội đồng xét xử không xử lý hậu quả về tiền tạm ứng án phí.
5. Về chi phí định giá và chi phí xem xét tài sản: Bà X phải nộp theo quy định (đã nộp xong).
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Vương |
Bản án số 456/2024/HNGĐ-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về chia tài sản chung khi ly hôn
- Số bản án: 456/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về chia tài sản chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Xuân Hải
