|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 456/2024/DS-ST Ngày: 17- 7- 2024 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Nữ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
- Bà Nguyễn Thị Bông Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương– Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 184/2024/DSST ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 458/2024/QĐXXST-DS ngày 28/5/2024, Quyết định Hoãn phiên tòa số 607/2024/QĐ-HPT ngày 19/6/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V,
Địa chỉ trụ sở: H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội, Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D- Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Địa chỉ liên lạc: Tầng 1, số I C, Phường D, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh,
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trung N hoặc ông Ngô Đa Huỳnh H;
(Ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Bị đơn:
- Ông Lê Văn P, sinh năm 1976,
- Bà Trương Thị L, sinh năm 1974,
Cùng địa chỉ: A Lô A, Chung cư T, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP V do ông Ngô Đa Huỳnh H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi là Ngân hàng) - chi nhánh S cho ông Lê Văn P và bà Trương Thị L vay vốn theo Hợp đồng cho vay số LN2112264971928, ngày 06/01/2022, cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
- Mục đích vay: Thanh toán tiền mua chiếc ô tô hiệu FORD Ranger XLS, 2.2L, AT, 4x2 sản xuất mới 100%.
- Thời hạn vay: 96 tháng, tính từ ngày tiếp theo ngày 08/01/2022 đến ngày 08/01/2030.
- Phương thức điều chỉnh lãi suất: Lãi suất cho vay: 9%/năm. Cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân, sau đó được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần.
- Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 xe ô tô hiệu FORD, Ranger XLS, 2.2L, AT, 4x2, biển số đăng ký: 51D-752.43, số khung: MNCLMFF80NW187426, số máy: P4AT4272954 theo Hợp đồng thế chấp số LN 2112264971928 ngày 06/01/2022.
Quá trình sử dụng vốn vay, ông P và bà L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 72.912.000 đồng và nợ lãi là 50.787.577 đồng. Từ ngày 16/4/2023, ông P và bà L không tiếp tục thanh toán theo hợp đồng nên khoản nợ còn lại chuyển sang nợ quá hạn. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 17/7/2024 là 558.714.181 đồng (trong đó gồm: Nợ gốc: 427.088.000 đồng, L1 quá hạn: 131.626.181 đồng). Ngân hàng đã nhiều lần mời ông P và bà L làm việc, tạo điều kiện về thời gian và đề nghị thanh toán nợ vay nhưng P và bà L vẫn không trả nợ vay.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông Lê Văn P và bà Trương Thị L thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay số LN2112264971928, ngày 06/01/2022, tạm tính đến hết ngày 17/7/2024 là: Nợ gốc: 427.088.000 đồng, L1 quá hạn: 131.626.181 đồng, Tổng cộng: 558.714.181 đồng đồng.
Ngoài ra, kể từ ngày 18/7/2024, ông Lê Văn P và bà Trương Thị L còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng trên cho đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng.
Yêu cầu ông Lê Văn P và bà Trương Thị L thanh toán toàn bộ số nợ trên một lần ngay sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp ông Lê Văn P và bà Trương Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN 2112264971928 ngày 06/01/2022, đối với tài sản là: 01 xe ô tô hiệu FORD, Ranger XLS, 2.2L, AT, 4x2, biển số đăng ký: 51D-752.43, số khung: MNCLMFF80NW187426, số máy: P4AT4272954 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên mà ông Lê Văn P và bà Trương Thị L vẫn chưa trả hết nợ thì ông Lê Văn P và bà Trương Thị L vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng.
Đối với tài sản thế chấp này, nguyên đơn không biết đang ở đâu, không biết ai đang quản lý, sử dụng và tình trạng như thế nào nên không thể yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định tài sản thế chấp này. Đề nghị Tòa án không tiến hành xem xét thẩm định tài sản thế chấp mà tuyên phát mãi theo quy định pháp luật.
Bị đơn ông Lê Văn P và bà Trương Thị L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như Giấy triệu tập; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; giấy triệu tập tham gia phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Lê Văn P và bà Trương Thị L đều vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc vì trở ngại khách quan và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn vẫn giữ ý kiến như đã trình bày, chỉ bổ sung tiền lãi đến ngày xét xử và nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Lê Văn P và bà Trương Thị L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu phản tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 93, 94, 95 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 295, 299, 351, 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010,
Đề nghị hội đồng xét xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- Án phí : Theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V yêu cầu bị đơn ông Lê Văn P và bà Trương Thị L thanh toán khoản tiền nợ tín dụng, Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp về
hợp đồng dân sự”, cụ thể là tranh chấp Hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Lê Văn P và bà Trương Thị L có nơi cư trú cuối cùng tại căn hộ S Lô A, Chung cư T, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Lê Văn P và bà Trương Thị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171, 177, 179, 196, 208, 220, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Lê Văn P và bà Trương Thị L đều vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu phản tố.
Nên căn cứ quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu bị đơn thanh toán tổng số tiền nợ gốc và lãi theo H1 dồng cho vay số LN2112264971928, ngày 06/01/2022, tạm tính đến ngày 17/7/2024 là 558.714.181 đồng (trong đó gồm: Nợ gốc: 427.088.000 đồng, L1 quá hạn: 131.626.181 đồng).
Do bị đơn ông Lê Văn P và bà Trương Thị L không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có văn bản trình bày có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để xem xét giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét thấy, ông Lê Văn P và bà Trương Thị L và Ngân hàng TMCP V có ký với nhau Hợp dồng cho vay số LN2112264971928, ngày 06/01/2022, theo đó Ngân hàng cho ông Lê Văn P và bà Trương Thị L vay tổng số tiền là 500.000.000 đồng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 xe ô tô hiệu FORD, Ranger XLS, 2.2L, AT, 4x2, biển số đăng ký: 51D-752.43, số khung: MNCLMFF80NW187426, số máy: P4AT4272954 theo Hợp đồng thế chấp số LN 2112264971928 ngày 06/01/2022 theo Hợp đồng thế chấp số LN 2112264971928 ngày 06/01/2022.
Từ cơ sở trên xác định hai bên có ký kết hợp đồng tín dụng, việc giao kết giữa các bên là tự nguyện, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực từ thời điểm giao kết hợp đồng và có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên theo quy định tại các Điều 385, 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thực hiện hợp đồng, ông Lê Văn P và bà Trương Thị L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc là 72.912.000 đồng và nợ lãi là 50.787.577 đồng. Từ ngày 16/4/2023,
ông P và bà L không tiếp tục thanh toán theo hợp đồng nên khoản nợ còn lại chuyển sang nợ quá hạn là phù hợp nội dung thỏa thuận tại khoản 7 Điều 2 Hợp đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông P và bà L phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 17/7/2024 là 558.714.181 đồng (trong đó gồm: Nợ gốc: 427.088.000 đồng, L1 quá hạn: 131.626.181 đồng) là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các Điều 91, 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010.
[2.3] Về yêu cầu ông Lê Văn P và bà Trương Thị L còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18/7/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng cho vay số LN2112264971928, ngày 06/01/2022 cho đến khi trả hết nợ.
Xét tại khoản 7 Điều 2 Hợp đồng cho vay số LN2112264971928, ngày 06/01/2022 có thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn. Do ông Lê Văn P và bà Trương Thị L chậm thực hiện nghĩa vụ nên kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến thi hành án xong, ông P và bà L còn phải thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các hợp đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2.4] Về thời hạn thanh toán: Xét thấy, việc ông Lê Văn P và bà Trương Thị L ngưng thanh toán nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nên Ngân hàng yêu cầu ông Lê Văn P và bà Trương Thị L thanh toán hết số tiền nợ một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[2.5] Về yêu cầu trong trường hợp ông Lê Văn P và bà Trương Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN 2112264971928 ngày 06/01/2022, đối với tài sản là 01 xe ô tô hiệu FORD, Ranger XLS, 2.2L, AT, 4x2, biển số đăng ký: 51D-752.43, số khung: MNCLMFF80NW187426, số máy: P4AT4272954.
Xét Hợp đồng thế chấp số LN 2112264971928 ngày 06/01/2022 giữa các bên tuân thủ quy định tai Điều 317 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên. Do đó, trường hợp ông Lê Văn P và bà Trương Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015.
Số tiền thu được sau khi phát mãi tài sản không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì ông Lê Văn P và bà Trương Thị L có trách nhiệm tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng, trường hợp còn dư thì trả lại cho ông Lê Văn P và bà Trương Thị L.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là phù hợp pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Lê Văn P và bà Trương Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên
toàn bộ số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí, hoàn lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1; 3 Điều 228, điểm a; b khoản 1 Điều 238, Điều 264, 266, 267, 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 299, khoản 7 Điều 323, Điều 351, 357, 385, 401, 463, và khoản 1 Điều 466 Bộ Luật dân sự năm 2015;
- Các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V.
- Buộc bị đơn ông Lê Văn P và bà Trương Thị L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay số LN2112264971928, ngày 06/01/2022, tạm tính đến ngày 17/7/2024 là 558.714.181 (năm trăm năm mươi tám triệu bảy trăm mười bốn ngàn một trăm tám mươi mốt) đồng (trong đó gồm: Nợ gốc: 427.088.000 đồng, L1 quá hạn: 131.626.181 đồng).
- Ngoài ra, ông Lê Văn P và bà Trương Thị L còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18/7/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng cho vay số LN2112264971928, ngày 06/01/2022 cho đến khi trả hết nợ.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Việc giao nhận tiền do các bên tự thực hiện hoặc tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Sau khi ông Lê Văn P và bà Trương Thị L hoàn tất nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP V có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp và hoàn trả toàn bộ bản chính giấy tờ liên quan tài sản thế chấp cho ông Lê Văn P và bà Trương Thị L.
- Trường hợp ông Lê Văn P và bà Trương Thị L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu Cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN 2112264971928 ngày 06/01/2022, đối với tài sản là: 01 xe ô tô hiệu FORD, Ranger XLS, 2.2L, AT, 4x2, biển số đăng ký: 51D-752.43, số khung: MNCLMFF80NW187426, số máy: P4AT4272954 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Số tiền thu được sau khi phát mãi tài sản nếu không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì ông Lê Văn P và bà Trương Thị L có trách nhiệm tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng, trường hợp còn dư thì trả lại cho ông Lê Văn P và bà Trương Thị L.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Lê Văn P và bà Trương Thị L phải nộp 26.348.567 (hai mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi tám ngàn năm trăm sáu mươi bảy) đồng.
Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí 12.540.708 (mười hai triệu năm trăm bốn mươi ngàn bảy trăm lẻ tám) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007735 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Nữ |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 456/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 456/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
