Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 456/2024/HS-ST

Ngày: 12-09-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC -THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn.
  2. Bà Võ Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 417/2024/HSST ngày 05/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 505/2024/QĐXXST-HS ngày 22/08/2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Văn S, tên gọi khác: Sinh đĩ; giới tính: N; sinh năm: 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: F đường L, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: như trên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Không; con ông Lê Văn T và bà Trần Thị T1 (chết); bị cáo có vợ tên: Trần Nguyễn Kỳ L, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và có 02 con cùng sinh năm 2009; tiền sự: Không.

Tiền án:

- Ngày 19/8/2013, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 165/2013/HSST.

- Ngày 17/5/2016, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 41/2016/HSST. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 165/2013/HSST ngày 19/8/2013 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh là 04 năm 06 tháng tù. Đã đóng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 13/11/2017.

Ngày 14/3/2017, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 60/2017/HSST. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 41/2016/HSST ngày 17/5/2016 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận là 12 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/9/2023.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/11/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bạch Tuấn T2, tên gọi khác: Không; giới tính: N; sinh năm: 1992 tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Nhà trọ ông Trần Văn L1, tổ E, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: nhân viên; con ông Bạch Văn H và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo có vợ Phan Thị D, sinh năm 1996 và 01 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/6/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

· Bị hại:

1. Anh Lê Khánh T3, sinh năm: 1976.

Địa chỉ: Số A Đường E, khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Hữu T4, sinh năm: 2004.

Địa chỉ: Số F đường B, khu dân cư H, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Văn S nảy sinh ý định lấy trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/11/2023, Trần Văn S điều khiển xe đạp hiệu Martin màu bạc, không có yên sau đi từ nhà sang khu vực phường P, thành phố T với mục đích tìm tài sản sơ hở để lấy trộm. Khoảng 02 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến đường E, phường P, thành phố T thì S phát hiện tại nhà số A đường E, khu phố B, phường P, thành phố T do anh Lê Khánh T3 làm chủ có cửa sổ tầng 1 đang mở, có thể đột nhập được nên S dừng lại. Sau đó, S cất xe đạp tại bãi đất trống trước nhà anh T3, S leo lên tường nhà anh T3 rồi đi trên mái tôn che sân để vào hiên của tầng 1. Khi vào được hiên của tầng 1, S luồn người chui vào trong cửa sổ đang mở và đột nhập vào phòng làm việc, tại đây Sinh lấy trộm 03 túi xách, 01 máy tính xách tay màu đen hiệu Asus rồi đem ra để ở ngoài lối đi tầng 1. Sau đó, S tiếp tục qua phòng ngủ tầng 1 nhìn thấy vợ chồng anh T3 đang ngủ, S lén lút lấy 02 điện thoại di động hiệu Iphone 14 và Iphone 8 Plus để trên đầu giường, 01 dây chuyền vàng (loại vàng 18K) có viên ngọc mề đay cẩm thạch màu xanh đang treo trên móc ở tủ và số tiền 1.000.000 đồng đựng trong ví da màu đen để trong túi quần đang treo trong phòng. Tất cả tài sản lấy ở phòng ngủ này S đều bỏ vào túi quần của S.

Sau khi lấy tài sản ở tầng 1, S tiếp tục lên tầng 2. Tại phòng ngủ ở tầng 2, S nhìn thấy 01 người đang ngủ nên tiếp tục lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, 01 máy tính bảng Ipad để trên đầu giường; 01 máy tính xách tay Macbook Pro M2 để trên bàn rồi sau đó đi xuống tầng 1. Sinh sắp xếp bỏ 02 túi xách nhỏ vào trong 01 túi xách lớn thì phát hiện bên trong túi xách lớn có 01 điện thoại Iphone 6, sau đó S tiếp tục cất Ipad, M và điện thoại di động vào túi xách lớn; còn 01 máy tính xách tay hiệu A cầm tay rồi Sinh tẩu thoát theo lối cũ. Khi leo xuống đường số 5, S nhặt 01 túi nilon ở dưới đường rồi bỏ tất cả tài sản vừa lấy trộm được vào túi và treo trước cổ xe đạp sau đó tẩu thoát về hướng đường T.

Trên đường đi, S liên lạc với T5 (chưa rõ lai lịch) hẹn gặp tại đường T để đưa tài sản nhờ Tính tiêu thụ, tuy nhiên Tính chỉ giúp tiêu thụ 01 máy tính bảng Ipad, 01 máy tính hiệu Asus và 03 điện thoại di động bao gồm Iphone 14, Iphone 8 plus và Iphone 6 và trả cho S số tiền 7.000.000 đồng, các tài sản còn lại S tiếp tục mang theo trên người. Sau đó, S điều khiển xe đạp đi về nhà. Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 10/11/2023, S điều khiển xe đạp đến trước nhà số F đường B, khu dân cư H - P, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì phát hiện cửa chính tầng 2 đang mở nên S tiếp tục nảy sinh ý định đột nhập vào trong lấy trộm tài sản. Lúc này, S để xe đạp ở đường đối diện, đi bộ đến trước nhà và leo lên cây để lên tầng 2 vào bên trong khu vực phòng thờ, sau đó đi đường cầu thang xuống tầng 1 và vào phòng ngủ của anh Nguyễn Hữu T4 đang ngủ và không khóa cửa. Lúc này, S quan sát thấy trên giường có 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Pro M1 và 01 điện thoại di động Iphone X nên S lấy cả hai tài sản trên rồi leo lên tầng 2 theo lối cũ tẩu thoát xuống đường và điều khiển xe đạp về nhà cất giấu những tài sản đã lấy trộm được.

Sau khi về nhà, S liên lạc với “Kỳ” (chưa rõ lai lịch) nhờ tìm chỗ tiêu thụ tài sản. Sinh đưa cho K 02 Macbook. Kỳ liên lạc với Bạch Tuấn T2 hỏi có thu mua Macbook hay không thì T2 nói K xuống cửa hàng của T2. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 10/11/2023, K mang các tài sản này xuống tiệm cầm đồ Kim Ngọc Đ (địa chỉ: số C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương) do Trần Văn Đ1 làm chủ để gặp T2 (T2 là nhân viên của tiệm cầm đồ). Một lúc sau, K gửi định vị địa chỉ tiệm cầm đồ cho S để S mang thêm 02 điện thoại di động (Iphone 12 Promax và Iphone X) đến bán. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, S mang theo 02 điện thoại di động đến gặp K và T2. Tại đây, ban đầu Sinh có ý định cầm cố các tài sản trên nhưng sau đó thỏa thuận với T2 muốn bán tất cả tài sản này. T2 kiểm tra sơ bộ thì biết các tài sản này đều có mật khẩu đăng nhập nhưng S và K đều không cung cấp được nên T2 cũng không hỏi thêm và biết tất cả những tài sản này không phải thuộc sở hữu của S và K. T2 yêu cầu S và K để lại các tài sản trên cho T2 kiểm tra và báo giá sau, S và K đồng ý rồi đi về.

Về phía anh Nguyễn Hữu T4: Đến sáng ngày 10/11/2023, anh T4 phát hiện bị mất tài sản nên đã trình báo Công an phường A, D, Bình Dương. Sau đó, anh T4 kiểm tra định vị của thiết bị bị mất trộm thì phát hiện chiếc Macbook có vị trí cuối cùng tại khu vực phường T, T, Bình Dương nên chiều cùng ngày anh T4 đi xuống Công an phường T trình báo và nhờ Công an phường T hỗ trợ đến nơi có định vị cuối cùng là tiệm cầm đồ Kim Ngọc Đ, địa chỉ số C đường G, phường T, T, Bình Dương. Khi anh T4 và C thì gặp chủ tiệm cầm đồ là anh Trần Văn Đ1, anh T4 và Công an phường T có thông báo cho anh Đ1 biết là anh T4 vừa bị mất trộm 01 máy tính Macbook và 01 điện thoại Iphone X, thông qua định vị xác định tài sản bị mất trộm đang ở tiệm Kim Ngọc Đ và xin chuộc lại. Tuy nhiên anh Đ1 nói không có thu mua hay cầm cố tài sản gì nên anh T4 đi về.

Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 10/11/2023, khi T2 đến tiệm thì T2 có nghe anh Đ1 kể lại sự việc lúc chiều có Công an phường T cùng anh T4 xuống thông báo định vị được máy tính bị mất trộm ở cửa hàng K1 và xin chuộc lại. Lúc này T2 mới biết các tài sản do S và K mang xuống là tài sản do trộm cắp mà có. Tuy nhiên do ham lợi nhuận nên T2 vẫn đồng ý thu mua. Thời điểm buổi sáng khi thu mua các tài sản của S và K thì T2 không báo lại cho Đ1 biết. Để tránh bị phát hiện, T2 nhờ người quen trên mạng cắt định vị đối với Macbook Pro M1 của anh T4, còn chiếc Macbook Pro M2 thì T2 chuyển cho em trai Bạch Tuấn H2 cất giữ (T2 không nói cho H2 biết về nguồn gốc tài sản); đối với điện thoại di động Iphone 12 Promax, T2 tháo rời linh kiện để bán cho khách cần. Đến ngày 12/10/2023, T2 chủ động liên lạc với S thông báo mua tất cả số tài sản trên với giá 19.500.000 đồng và hẹn giao tiền cho S tại Công viên C, phường T, T, Bình Dương. Sau khi có tiền, S sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Về phía anh Lê Khánh T3, sáng ngày 10/11/2023, anh T3 kiểm tra phát hiện bị mất tài sản nhưng do bận việc cá nhân nên đến ngày 13/11/2023 mới đến Công an phường P trình báo sự việc.

Đến ngày 14/11/2023, trong quá trình tuần tra, Đội Cảnh sát Hình sự phát hiện Sinh điều khiển xe đạp có biểu hiện nghi vấn có đặc điểm giống đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tại phường P nên tiến hành mời về làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, S khai nhận: Đối với 03 túi xách trộm cắp được, S cho chị dâu sống cùng nhà là Ngô Thị Thu T6 nhưng không nói nguồn gốc của những túi xách này cho T6 biết. Đối với số tiền S có được do bán các tài sản trộm cắp thì S đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Công an thành phố T, Bạch Tuấn T2 khai nhận toàn bộ hành vi như trên. Sau khi biết được những tài sản này do S trộm cắp mà có, T2 lên mạng tìm kiếm thông tin hướng dẫn để làm mất định vị, T2 nhờ một người bạn trên mạng xã hội (không rõ lai lịch) hỗ trợ tắt định vị của chiếc Macbook. Đối với Iphone 12 promax do dính I nên T2 rã linh kiện để bán cho khách vãng lai. Đối với 01 máy tính Macbook Pro 2020 (không bị dính I) thì T2 nhờ em ruột Bạch T7 H2 đưa lên cho dì ruột ở B cất giữ vì sợ phát hiện định vị (T2 không nói nguồn gốc tài sản này cho H2 biết), còn lại 01 Macbook Pro và 01 điện thoại Iphone X thì để ở cửa hàng T8.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Văn Đ1 trình bày nội dung sự việc như trên. Anh Đ1 cho biết T2 làm việc cho Đ1 với vị trí nhân viên kĩ thuật được 03 năm. Địa không trả lương cho T2 mà thỏa thuận chia đôi số tiền lợi nhuận nếu thanh lý được các tài sản cầm cố đến hạn khách không lấy hoặc tài sản thu mua thì sau khi thanh lý tiền lời sẽ chia đều với T2. Đối với việc T2 thu mua 02 máy tính Macbook và 02 điện thoại di động (Iphone 12 Promax và Iphone X), anh Đ1 không nghe T2 báo lại nên khi anh T4 và Công an phường T đến hỏi xin chuộc lại thì Đ1 phủ nhận. Ngoài ra, anh Đ1 cho biết quy trình thu mua, cầm cố tại cửa hàng như sau: Nếu anh Đ1 có mặt ở cửa hàng thì anh Đ1 trực tiếp giao dịch với khách hàng, nếu không có anh Đ1 thì T2 trực tiếp giao dịch với khách, sau đó sẽ tiến hành kiểm tra định giá sản phẩm, khi thanh toán sẽ lấy tiền từ anh Đ1. Trường hợp anh Đ1 không có mặt thì trong tiệm lúc nào cũng có sẵn 10.000.000 đồng để T2 sử dụng và báo lại anh Đ1. Vào đêm ngày 10/11/2023, anh Đ1 có chuyển cho T2 số tiền 10.000.000 đồng vào tài khoản của T2 để mua máy nhưng do tin tưởng nên không hỏi và không biết T2 mua máy gì và mua của ai.

Kết luận định giá tài sản số 344-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 máy tính xách tay Macbook Pro M2 màu xám 256GB trị giá 23.167.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng 128GB trị giá 14.100.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 14 màu xanh dương 64GB trị giá 14.467.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng 64GB trị giá 3.533.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng 16GB trị giá 900.000 đồng; 01 máy tính bảng Ipad Gen 8 màu xám 32GB trị giá 4.533.000 đồng; 01 dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 1,56 chỉ trị giá 8.881.080 đồng; 01 mặt mề đay cẩm thạch tròn màu xanh lá cây trị giá 10.247.080 đồng. Đối với 01 túi xách bằng da chữ Metrocity màu đen; 01 túi xách màu da màu xanh lá, bên ngoài túi có in chữ GUCCI; 01 ví cầm tay (dạng túi xách) có chữ Chloe và 01 máy tính xách tay hiệu Asus màu đen, Hội đồng định giá từ chối định giá tài sản do không có hóa đơn, chứng từ, xuất xứ, thông số kỹ thuật,...theo điểm c khoản 1 Điều 10 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018.

Kết luận định giá tài sản số 228/KLĐG-HĐĐGTS ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Pro M1 màu xám 2020 loại 512GB trị giá 17.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng 64GB trị giá 5.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 xe đạp màu bạc, không có yên sau; 01 (một) linh kiện gồm mainboard, 01 (một) linh kiện camera;

01 máy tính xách tay Macbook Pro M2; 01 túi xách bằng da chữ Metrocity màu đen; 01 túi xách màu da màu xanh lá, bên ngoài túi có in chữ GUCCI; 01 ví cầm tay (dạng túi xách) có chữ Chloe và 01 dây chuyền màu vàng có mặt ngọc tròn mề đay màu xanh lá.

01 máy tính xách tay Macbook Pro M1, 01 điện thoại di động Iphone X.

01 USB chứa đoạn video ghi nhận nội dung liên quan đến vụ án.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Khánh T3 và anh Nguyễn Hữu T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản Cáo trạng số 409/CTr-VKSTPTĐ ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Trần Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Bạch Tuấn T2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo S, T2 về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn S từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản".

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Bạch Tuấn Thành từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, sung quỹ đối với 01 xe đạp màu bạc, không có yên sau; 01 (một) linh kiện gồm mainboard, 01 (một) linh kiện camera.

Các bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận, bị cáo S nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, bị cáo T2 nói lời sau cùng xin được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội lao động nuôi dưỡng con nhỏ mới sinh, làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị hại anh T2, anh T4 có đơn xin xét xử vắng mặt, xét đơn xin vắng mặt là hợp lệ và việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ khoản 2 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các bị hại.

[2] Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với hành vi của bị cáo mà Cáo trạng đã nêu. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 10/11/2023, tại địa chỉ số A đường E, khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo S đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 máy tính xách tay Macbook Pro M2 màu xám 256GB trị giá 23.167.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng 128GB trị giá 14.100.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 14 màu xanh dương 64GB trị giá 14.467.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng 64GB trị giá 3.533.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng 16GB trị giá 900.000 đồng; 01 máy tính bảng Ipad Gen 8 màu xám 32GB trị giá 4.533.000 đồng; 01 dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 1,56 chỉ trị giá 8.881.080 đồng; 01 mặt mề đay cẩm thạch tròn màu xanh lá cây trị giá 10.247.080 đồng và 03 túi xách (không định giá được) của anh Lê Khánh T3. Sau đó S tiếp tục điều khiển xe đạp đến địa chỉ số F đường B, khu dân cư H - P, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Pro M1 màu xám 2020 loại 512GB trị giá 17.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng 64GB trị giá 5.000.000 đồng của anh Nguyễn Hữu T4. Tổng giá trị tài sản bị cáo S chiếm đoạt trong 02 lần trộm cắp trên là 101.828.160 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đối với Bạch Tuấn T2 mặc dù biết rõ những tài sản do SK đem đến đều là tài sản do phạm tội mà có, tuy nhiên T2 vẫn đồng ý mua các tài sản này với giá 19.500.000 đồng. Sau khi mua được tài sản, do sợ bị phát hiện nên T2 còn tìm cách tẩu tán tài sản và nhờ người tắt định vị trên máy tính và điện thoại.

Hành vi nêu trên của bị cáo T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Đối với đối tượng “Tính” và “Kỳ” (không rõ lai lịch) là người giúp Trần Văn S tiêu thụ những tài sản do trộm cắp mà có, tuy nhiên do hiện nay chưa làm rõ được nhân thân lai lịch, địa chỉ của T5K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tách vụ án hình sự đối với hành vi của T5K, khi có căn cứ sẽ xử lý là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với Trần Văn Đ1: Mặc dù Địa làm chủ cửa hàng, tuy nhiên công việc sửa chữa, thu mua máy thường giao cho Bạch T7 T2 thực hiện. Đồng thời, T2 khai nhận khi thu mua những tài sản do SK mang đến thì T2 không nói cho Đ1 biết và Đ1 cũng xác định không biết sự việc này. Do vậy không đủ căn cứ xử lý đối với Đ1 về hành vi đồng phạm với T2 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đối với Ngô Thị Thu T6: T6 thừa nhận được Trần Văn S tặng 03 túi xách để sử dụng nhưng T6 không biết 03 túi xách này do Sinh trộm cắp của người khác. Bản thân Sinh cũng khai nhận khi đưa cho T6 thì không nói cho T6 biết 03 túi xách này do S trộm cắp mà có. Do vậy. không đủ căn cứ xử lý đối với T6 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đối với Bạch Tuấn H2 có hành vi giữ giúp Bạch Tuấn T2 01 máy tính xách tay Macbook nhưng T2 khai nhận không nói nguồn gốc tài sản này cho H2 biết. Do vậy, không đủ căn cứ xử lý đối với H2 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[4] Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt:

Bị cáo Trần Văn S có tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là chiếm đoạt số tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng và tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo T2 bị xét xử ở khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo S phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo S có 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng, tuy nhiên bị cáo xác định khi chấp hành án xong ngày 13/9/2023 thì về nhà có phụ chị dâu là Ngô Thị Thu T6 bán hàng tạp hóa, chị T6 có nuôi ăn và trả tiền công khoảng 70.000 đồng/ngày đến trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo S cũng khai nhận mục đích trộm cắp tài sản là để bán lấy tiền trả nợ cho cha của bị cáo. Do đó, không đủ căn cứ áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” đối với bị cáo S.

Bị cáo T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo S, T2 đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo T2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng thêm quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo T2 gia đình có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, có cha là ông Bạch Văn H được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba, các bị hại anh T2, anh T4 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo S, T2 nên xem xét áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[6] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt đối với các bị cáo:

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo S là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo T2 là ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân và tổ chức được pháp luật bảo vệ, tiếp tay cho các hành vi phạm tội. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, trong đó bị cáo S có nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành án xong lại vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần cách ly bị cáo S ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.

Xét bị cáo T2 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú ổn định, có con nhỏ mới sinh, đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, đồng thời có khả năng tự cải tạo, sửa chữa bản thân nên Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, đồng thời áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo T2 được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa, tạo điều kiện cho bị cáo T2 tự cải tạo bản thân, sửa chữa sai lầm, tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng, đi làm để nuôi con nhỏ, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với: 01 xe đạp màu bạc, không có yên sau; 01 linh kiện gồm mainboard, 01 linh kiện camera. Xét các vật chứng này là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, sung quỹ nhà nước.

Đối với các tài sản mà Sinh trộm cắp của anh Lê Khánh T3 đã bị thu giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh T3 là đúng quy định.

Đối với các tài sản mà Sinh trộm cắp của anh Nguyễn Hữu T4 đã bị thu giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho T4 là đúng quy định.

Đối với 01 USB chứa đoạn video ghi nhận nội dung liên quan đến vụ án. Xét đây là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo S nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Mỗi bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[10] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 323; điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 290; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Luật Thi hành án dân sự.

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tuyên bố: Bị cáo Bạch Tuấn Thành phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Văn S: 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Bạch Tuấn Thành 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 12/09/2024.

Giao bị cáo T3 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 263/2024/HSST-BPNC ngày 05/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo T3 cho đến khi bị cáo nhận được quyết định thi hành án hoặc quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn khác của Cơ quan có thẩm quyền.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, sung quỹ nhà nước đối với: 01 xe đạp màu bạc, không có yên sau; 01 (một) linh kiện gồm mainboard, 01 (một) linh kiện camera.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 295/QĐ-VKSTPTĐ ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/8/2024).

4. Về án phí:

Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo được hưởng án treo rõ)

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Trung Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 456/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội “trộm cắp tài sản” và “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

  • Số bản án: 456/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn S - phạm tội Trộm cắp tài sản Bạch Văn T - phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger