Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 456/2025/HS-ST

Ngày: 27-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Ông Hoàng Xuân Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Lữ Ngọc Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 417/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 458/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Văn H; sinh ngày: 10/06/1974 tại Thành phố Đà Nẵng; Nơi thường trú: 2 đường F, khu phố A, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 5 đường N, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Không; con ông Phạm Văn T, sinh năm: 1943 và bà Lê Thị N, sinh năm: 1944; vợ: Huỳnh Thị Mộng T1, sinh năm: 1975; con: Phạm Ngọc Thúy V, sinh năm: 1996; Phạm Minh N1, sinh năm: 1999 và Phạm Minh Q, sinh năm: 2006; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/01/2025; Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Phạm Khánh T2, sinh năm: 1987; Địa chỉ: G Đường F, khu dân cư V, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  • - Anh Phan Công L, sinh năm: 1997, địa chỉ: 5 đường N, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
  • - Chị Phạm Ngọc Thúy V, sinh năm: 1996, địa chỉ: 5 đường N, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Phạm Khánh T2 và Phạm Văn H có quen biết với nhau do trước đây từng làm chung công ty với nhau. Do hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, cần tiền để giải quyết công việc nên ngày 07/07/2022 chị T2 đã gặp hỏi Phạm Văn H vay tiền. Lúc này H còn một ít tiền dư do được một số bạn bè quen biết cho vay để làm nhà nên Hiệp đồng Ý cho chị T2 vay lại. Hai bên thỏa thuận hình thức trả lãi suất theo tháng, mức lãi suất mà H thu của chị T2 từ 17,5% đến 32,2%/01 tháng, trong thời gian vay tiền thì T2 có thể trả một phần hoặc toàn bộ tiền gốc. Nếu trả một phần tiền gốc thì sẽ tính lại lãi suất theo tiền gốc hiện nợ. Từ ngày 07/7/2022 đến 09/01/2025, Phạm Văn H đã cho chị Phạm Khánh T2 vay hai đợt, cụ thể như sau:

Đợt 1: Từ ngày 07/07/2022 đến ngày 28/03/2023 H cho chị T2 vay với số tiền 300.000.000 đồng, thỏa thuận ban đầu lãi suất 17,5%/tháng (tương đương 210%/năm) đến 32,2%/tháng (tương đương 386,4%/năm) cao gấp từ 10,4 lần đến 19,2 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Trong quá trình trả tiền gốc và lãi của khoản vay này thì ngày 09/02/2023 chị T2 có vay thêm của H 14.000.000 đồng. Diễn biến các lần trả tiền gốc và lãi của chị T2 cho H cụ thể:

  • - Ngày 07/07/2022, H cho chị T2 vay số tiền 300.000.000 đồng (đưa tiền mặt) tại quán cà phê (không nhớ rõ địa chỉ) ở đường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiệp trừ trước số tiền 52.500.000 đồng tiền lãi của tháng đầu tiên, tương đương mức lãi suất 17,5%/tháng, số tiền chị T2 thực nhận từ H là 247.500.000 đồng.
  • - Ngày 25/07/2022, chị T2 trả tiền gốc cho H 51.250.000 đồng (trong đó 50.000.000 đồng tiền gốc; 1.250.000 đồng tiền xăng xe cho H đi lại lấy tiền), số tiền gốc còn lại là 250.0000.000 đồng.
  • - Ngày 10/08/2022, chị T2 trả cho H thêm 100.000.000 đồng tiền gốc nên chỉ còn nợ H tiền gốc đến thời điểm này là 150.000.000 đồng.
  • - Ngày 17/08/2022, chị T2 chuyển trả tiền lãi suất tháng 8 là 26.250.000 đồng trên số tiền gốc 150.000.000 đồng còn nợ, tương đương mức lãi suất 17,5%/tháng.
  • - Ngày 07/09/2022, chị T2 chuyển trả cho H số tiền 75.000.000 đồng (trong đó tiền lãi suất tháng 9 là 26.250.000 đồng trên số tiền gốc còn nợ là 150.000.000 đồng, tương đương mức lãi suất 17,5%/tháng; đồng thời trả thêm tiền gốc 48.750.000 đồng), nên lúc này chị T2 còn nợ H 101.250.000 đồng tiền gốc.
  • - Ngày 07/10/2022 chị T2 phải trả cho H số tiền lãi là 18.750.000 đồng trên số tiền gốc 101.250.000 đồng còn nợ, tương đương mức lãi suất 18,5%/tháng. Do không đủ tiền nên chị T2 đã chuyển trả cho H 02 lần với số tiền 10.000.000 đồng lãi và còn nợ lại tiền lãi của tháng này là 8.750.000 đồng.
  • - Tháng 11/2022, chị T2 phải trả cho H số tiền lãi là 18.750.000 đồng trên số tiền gốc 101.250.000 đồng còn nợ, tương đương mức lãi suất 18,5%/tháng. Do không đủ tiền nên ngày 04 và ngày 07/11/2022, chị T2 chuyển hai lần tiền lãi cho H với tổng số tiền là 10.000.000 đồng và chị T2 còn nợ lại tiền lãi tháng này là 8.750.000 đồng. Tổng cộng tiền lãi của tháng 10 và tháng 11/2022, chị T2 còn nợ của H là 17.500.000 đồng.
  • - Ngày 07/12/2022, chị T2 chuyển trả tiền lãi của tháng 12 cho H số tiền là 18.750.000 đồng trên số tiền gốc 101.250.000 đồng còn nợ, tương đương mức lãi suất 18,5%/tháng.
  • - Ngày 09/01/2023, chị T2 chuyển cho H số tiền là 19.250.000 đồng (trong đó tiền lãi tháng 01/2023 là 18.750.000 đồng trên số tiền gốc 101.250.000 đồng còn nợ, tương đương mức lãi suất 18,5%/tháng và 500.000 đồng là tiền lãi còn thiếu của tháng 11 và tháng 12/2022). Chị T2 còn thiếu tiền lãi suất của tháng 11 và tháng 12/2022 là 17.000.000 đồng.
  • - Ngày 16/01/2023, chị T2 chuyển trả tiền lãi suất cho H số tiền 15.000.000 đồng còn thiếu của tháng 11 và tháng 12/2022. Chị T2 còn thiếu tiền lãi suất của của tháng 11 và tháng 12/2022 là 2.000.000 đồng.
  • - Ngày 17/01/2023, chị T2 chuyển số tiền 30.000.000 đồng cho H (trong đó 28.000.000 đồng là tiền gốc, còn 2.000.000 đồng là tiền lãi còn thiếu của tháng 11 và tháng 12/2022). Thời điểm này, chị T2 còn nợ H 73.250.000 đồng tiền gốc.
  • - Ngày 07/02/2023, chị T2 chuyển trả tiền lãi tháng 02 cho H số tiền là 18.750.000 đồng trên số tiền gốc 73.250.000 đồng còn thiếu, tương đương mức lãi suất 25,6%/tháng.
  • - Ngày 09/02/2023, chị T2 chuyển trả tiền gốc cho H số tiền 30.000.000 đồng. Số tiền gốc chị T2 còn nợ của H tính đến thời điểm này là 43.250.000 đồng. Sau đó cùng ngày 09/02/2023 chị T2 vay lại H số tiền 14.000.000 đồng nên số tiền gốc chị T2 còn nợ H là 57.250.000 đồng.
  • - Ngày 19/02/2023, chị T2 chuyển trả số tiền 30.000.000 đồng tiền gốc cho H. Trong đó 14.000.000 đồng chị T2 trả tiền gốc vay ngày 09/02/2023; 2.240.000 đồng tiền lãi trên số tiền gốc 14.000.000 đồng vay ngày 09/02/2023 và 13.760.000 đồng tiền gốc của khoản vay trước đó. Số tiền gốc chị T2 còn nợ H đến thời điểm này là 29.700.000 đồng.
  • - Ngày 07/3/2023, chị T2 chuyển trả cho H số tiền 18.750.000 đồng. Trong đó tiền lãi tháng 03 là 5.160.000 đồng trên 29.700.000 tiền gốc còn nợ, tương đương mức lãi suất 17,5%/tháng và trả cho H thêm 13.590.000 đồng tiền gốc. Thời điểm này, chị T2 còn nợ tiền gốc của H là 15.900.000 đồng.
  • - Ngày 13/3/2023, chị T2 chuyển trả tiền gốc cho H là 4.500.000 đồng, như vậy tiền gốc tại thời điểm này chị T2 còn nợ H là 11.400.000 đồng.
  • - Ngày 14/3/2023, chị T2 chuyển trả tiền gốc cho H là 10.000.000 đồng. Thời điểm này, chị T2 còn nợ tiền gốc của H là 1.400.000 đồng.
  • - Ngày 24/3/2023, chị T2 chuyển trả tiền lãi và tiền gốc cho H số tiền 3.000.000 đồng. Trong đó 1.600.000 đồng tiền lãi suất và 1.400.000 đồng tiền gốc.
  • - Ngày 28/3/2023, chị T2 chuyển thêm số tiền 20.000.000 đồng cho H, đây là tiền chị T2 tự nguyện trả thêm cho H tiền xăng xe, đi lại.

Như vậy, tính đến ngày 28/3/2023, chị T2 đã tất toán toàn bộ khoản vay trên cho H. Tổng số tiền H đã thu của chị T2 là 543.000.000 đồng (trong đó tiền gốc 314.000.000 đồng, tiền lãi 207.750.000 đồng, tiền phí cho vay chị T2 tự trả thêm 21.250.000 đồng); số tiền lãi suất tương đương 20%/năm là 20.359.350 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 187.390.650 đồng.

Đợt 2: Từ ngày 29/3/2023 đến 15/4/2024, H cho chị T2 vay 05 lần tiền với tổng số tiền là 267.000.000 đồng, thỏa thuận ban đầu lãi suất 17.5%/tháng (tương đương 210%/năm) cao gấp 10,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Diễn biến các lần trả tiền gốc và lãi của chị T2 cho H cụ thể:

  • - Ngày 29/3/2023, chị T2 vay của H số tiền 50.000.000 đồng, cả hai thỏa thuận lãi suất 17,5%/tháng, Hiệp trừ 8.250.000 đồng tiền lãi tháng đầu tiên và 1.250.000 đồng phí vay tiền và thực chuyển cho chị T2 số tiền 40.000.000 đồng.
  • - Ngày 31/3/2023, chị T2 vay của H số tiền 100.000.000 đồng, Hiệp trừ 17.250.000 đồng tiền lãi tháng đầu tiên, tương đương mức lãi suất 17,5%/tháng, và trừ 2.500.000 đồng phí vay tiền và thực chuyển cho chị T2 số tiền 80.000.000 đồng.

Tổng khoản vay được gộp lại là 150.000.000 đồng tiền gốc.

  • - Ngày 04/4/2023, chị T2 vay tiền của H số tiền 17.000.000 đồng, Hiệp trừ 2.975.000 đồng tiền lãi tháng đầu tiên, tương đương mức lãi suất 17,5%/tháng, và trừ 25.000 đồng phí vay tiền; thực chuyển cho chị T2 số tiền 14.000.000 đồng.
  • - Đối với khoản vay ngày 29/3/2024 và ngày 31/3/2023 thì ngày 10/4/2023 chị T2 chuyển trả lãi 10.000.000 đồng, ngày 17/4/2023, chuyển trả lãi 8.000.000 đồng; ngày 24/4/2023 chuyển lãi 5.000.000 đồng, ngày 28/4/2023, chuyển lãi 3.000.000 đồng cho H. Tổng tiền lãi tháng 4 của hai khoản vay trên là 26.000.000 đồng trên 150.000.000 đồng tiền gốc, tương đương mức lãi suất 17,5%/tháng.
  • - Đối với khoản vay ngày 04/4/2023 thì ngày 05/5/2023, chị T2 chuyển trả 20.000.000 đồng, trong đó trả tiền lãi tháng 5 của khoản vay này là 3.000.000 đồng, tương đương mức lãi suất 17,5%/tháng và trả tiền gốc 17.000.000 đồng. Như vậy khoản vay ngày 04/4/2023 đã tất toán xong.
  • - Ngày 25/5/2023, chị T2 phải trả tiền lãi tháng 5 của khoản vay 150.000.000 đồng với số tiền là 26.250.000 đồng, tương đương mức lãi suất 17,5%/tháng. Do không đủ tiền nên chị T2 chuyển số tiền lãi là 17.500.000 đồng và nợ lại 8.750.000 đồng tiền lãi.
  • - Ngày 12/6/2023, chị T2 chuyển số tiền 10.000.000 đồng trừ vào tiền lãi suất còn thiếu của tháng trước là 8.750.000 đồng, còn 1.250.000 đồng tiền phí trả thêm cho H.
  • - Ngày 12/6/2023, chị T2 chuyển trả số tiền gốc là 50.000.000 đồng. Thời điểm này tiền gốc chị T2 còn nợ H là 100.000.000 đồng. (Dây vay thứ nhất)
  • - Tiền lãi của tháng 6/2023, chị T2 phải trả là 17.500.000 đồng trên số tiền gốc là 100.000.000 đồng, tương đương mức lãi suất 17,5%/tháng, nhưng do không đủ tiền nên chị T2 trả lãi nhiều lần, cụ thể: Ngày 22/6/2023, chị T2 chuyển 7.500.000 đồng trả tiền lãi và nợ lại 10.000.000 đồng; Ngày 27/6/2023, chị T2 chuyển tiếp 7.500.000 đồng tiền lãi, nợ lại 2.500.000 đồng tiền lãi; Ngày 30/6/2023, chị T2 chuyển tiếp số tiền 10.000.000 đồng, trong đó trừ tiền lãi còn nợ của tháng 6 là 2.500.000 đồng. Còn 7.500.000 đồng chị T2 trả lãi cho tháng 7/2023.
  • - Ngày 21/7/2023, chị T2 trả tiền lãi tháng 7/2023 là 17.500.000 đồng, trong đó do đã trả trước 7.500.000 đồng nên chị T2 chuyển trả số tiền lãi còn thiếu của tháng 7 là 10.000.000 đồng cho H.
  • - Ngày 24/7/2024, chị T2 vay lại của H số tiền 10.000.000 đồng, không tính lãi suất nên không tính trách nhiệm hình sự đối với khoản vay này.
  • - Ngày 11/8/2023, chị T2 vay tiếp số tiền 90.000.000 đồng (Dây vay thứ hai). Hiệp trừ 15.750.000 đồng tiền lãi tháng đầu tiên, tương đương mức lãi suất 17,5%/tháng, và trừ 250.000 đồng phí vay tiền; thực chuyển cho chị T2 số tiền 74.000.000 đồng, đến thời điểm này tổng cộng chị T2 còn nợ tiền gốc là 200.000.000 đồng (trong đó có 10.000.000 đồng không tính lãi suất; 100.000.000 đồng tiền gốc của dây vay thứ nhất và 90.000.000 đồng dây vay thứ hai).
  • - Tháng 8/2023, chị T2 phải trả cho H số tiền lãi 17.500.000 đồng trên 100.000.000 đồng tiền gốc của dây vay thứ nhất. Do không đủ tiền nên ngày 23/8/2023, chị T2 chuyển trả 10.000.000 đồng tiền lãi cho khoản này và nợ lại 7.500.000 đồng tiền lãi.
  • - Tháng 9/2023, chị T3 phải trả cho H số tiền lãi là 17.500.000 đồng trên 100.000.000 đồng của dây vay thứ nhất. Do không đủ tiền nên ngày 23/9/2023, chị T2 chuyển trả lãi cho H số tiền 11.750.000 đồng và nợ lại 5.750.000 đồng tiền lãi. Thời điểm này, chị T2 còn nợ lãi tháng trước và tháng này là 13.250.000 đồng.
  • - Ngày 30/9/2023, chị T2 chuyển lần thứ nhất số tiền 1.850.000 đồng, lần hai chuyển 900.000 đồng, tổng chuyển 2.750.000 đồng trả tiền lãi còn nợ, thời điểm này, số tiền lãi còn thiếu là 10.500.000 đồng.
  • - Ngày 31/9/2023, chị T2 chuyển tiếp số tiền 5.000.000 đồng trả số tiền lãi còn nợ trước đó, và còn thiếu 5.500.000 đồng. Đồng thời đã đến hạn trả lãi của khoản vay 90.000.000 đồng của dây vay thứ hai nhưng không có tiền trả nên chị T2 xin nợ tiền lãi của khoản gốc 90.000.000 đồng với số tiền lãi phải trả là 15.750.000 đồng. Tổng số tiền lãi của 02 khoản vay gốc còn thiếu là 21.250.000 đồng.
  • - Ngày 30/10/2023, đến hạn trả lãi của 02 khoản vay gồm 17.500.000 đồng tiền lãi của khoản vay 100.000.000 đồng và 15.750.000 đồng của khoản vay 90.000.000 đồng nhưng không có tiền trả nên chị T2 xin nợ. Tính đến thời điểm này, chị T2 còn nợ số tiền lãi là 54.500.000 đồng của tháng 9 và tháng 10.
  • - Từ ngày 29/11/2023 đến ngày 15/04/2024, chị T2 chuyển khoản trả lãi cho H nhiều lần với tổng số tiền 63.550.000 đồng để trả lãi hai khoản vay trên rồi sau đó mất khả năng chi trả.

Như vậy, tổng số tiền H đã cho chị T2 vay đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự là 257.000.000 đồng; H đã thu của chị T2 là 300.550.000 đồng (trong đó tiền gốc 67.000.00 đồng, tiền lãi 228.275.000 đồng, tiền phí cho vay 5.275.000 đồng); số tiền lãi suất tương đương 20%/năm là 40.697.900 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 187.577.100 đồng.

Lúc này H không đòi tiền lãi nữa mà chốt tiền gốc chị T2 còn nợ của H là 200.000.000 đồng và yêu cầu chị T2 trả số tiền gốc này.

Đến tháng 6/2024, do bị bệnh nhồi máu não bán cầu trái, đi lại khó khăn nên H nhờ con rể là Phan Công L (Sinh năm 1997) đi gặp chị T2 để lấy giúp số tiền 200.000.000 đồng mà chị T2 còn nợ của H. Sau đó L đến Công ty nơi chị T2 làm việc tại địa chỉ phường A, thành phố T để gặp chị T2 yêu cầu chị T2 trả tiền còn nợ cho ông H. L gọi điện và được chị T2 hẹn gặp ở quán nước gần công ty. Tại đây L lớn tiếng chửi bới yêu cầu chị T2 trả số tiền 200.000.000 đồng còn nợ của ông H cho L. Mặc dù L không nói nhưng chị T2 biết L là con rể ông H nên đã nói chuyện với L và hẹn tuần sau trả tiền cho L. Một tuần sau L quay lại Công ty chị T2 để yêu cầu trả nợ thì chị T2 tiếp tục khất nợ, L không đồng ý và có hành động đập bàn, lớn tiếng chửi bới. Lúc này chị T2 lấy giấy bút ghi giấy hẹn gặp trả tiền cho L vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 13/6/2024 tại địa chỉ B X, phường B, quận B và nói đây là địa chỉ Ngân hàng để làm tin cho L. Đến ngày hẹn, L chở vợ là Phạm Ngọc Thúy V (con gái ông H) đến địa chỉ ghi trên giấy hẹn để lấy tiền nhưng đến nơi thì không thấy ngân hàng và không gặp chị T2. Nghĩ chị T2 lừa mình nên L gọi điện nhiều lần cho chị T2 nhưng không được, sau đó đến Công ty chị T2 làm việc để gặp nói chuyện nhưng không gặp được nên L cùng vợ đi về. Do bực tức nên L đã gọi điện, nhắn tin chửi bới chị T2. Sau đó chị T2 nhắn tin xin L thư thả để chị T2 xoay tiền trả và sẽ gửi thêm tiền cà phê cho L. Chị T2 xin L cho trả từ từ, Lý báo lại H thì Hiệp đồng Ý, nói với L có trả còn hơn không.

Từ ngày 13/6/2024 cho đến ngày 10/10/2024, chị T2 đã chuyển tổng cộng 25 lần với tổng số tiền là 221.097.012 đồng vào số tài khoản 0936151570 của ngân hàng M tên Phan Công L (Trong đó 200.000.000 đồng là tiền gốc chị T2 còn nợ và 21.097.012 đồng là tiền chị T2 cho thêm Lý tiền công đi lại, xăng xe). Sau đó, L chuyển vào tài khoản của vợ là Phạm Ngọc T4 V để V chuyển lại cho H.

Như vậy, đến ngày 10/10/2024, chị T2 đã tất toán toàn bộ khoản vay trên cho H.

Đến khoảng 10 giờ 00 ngày 09/01/2025, H và chị T2 hẹn gặp nhau tại quán cà phê phường T, thành phố T để chốt nợ khoản vay trên thì bị Công an phát hiện, đưa về trụ sở làm rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Phạm Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án: Không.

- Trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Khánh T2 yêu cầu được nhận lại số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Phạm Văn H đã thu. Ngoài ra, đối với số tiền khác ngoài tiền gốc và lãi mà chị T2 đã trả cho Phạm Văn H và Phan Công L, đây là số tiền chị T2 tự nguyện trả thêm, không ai ép buộc và không yêu cầu đối với khoản tiền này.

Cáo trạng số 402/CT-VKS ngày 13/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; về hình phạt: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; chưa có tiền án, tiền sự; sức khỏe yếu do bị tai biến (nhồi máu não bán cầu trái) quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn H mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù; về hình phạt bổ sung: Do bị cáo bị tai biến, sức khỏe yếu, không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền gốc đã cho chị T2 vay là 571.000.000 đồng; tổng tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/năm) là 61.057.250 đồng; Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo H phải trả lại số tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo H đã thu của chị T2 là 374.967.750 đồng; Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định.
  • - Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Công L trình bày: Anh là con rể của bị cáo H, bị cáo H có vài lần nhờ anh đến lấy tiền nợ của chị T2 giùm bị cáo H, anh không biết việc bị cáo H cho chị T2 vay tiền với lãi suất cao và anh cũng không hưởng lợi gì từ bị cáo H.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Ngọc Thúy V trình này: Bị cáo H là cha đẻ của chị và anh L là chồng của chị. Do bị cáo H bị tai biến đi lại khó khăn nên có nhờ anh L đi lấy tiền nợ của chị T2 giùm bị cáo H, bản thân chị đã cùng chồng đến ngân hàng, địa chỉ số B X, quận B vào ngày 13/5/2024 theo lịch hẹn của chị T2.Tuy nhiên đến đó, vợ chồng chị không gặp chị T2. Chị hoàn toàn không biết bị cáo H cho chị T2 vay tiền với lãi suất cao và vợ chồng chị cũng không hưởng lợi gì từ bị cáo H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Khánh T2 vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt của chị T2 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và quyền lợi của chị T2 nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên tòa theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn H trong quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các vật chứng thu giữ cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 09/01/2015, tại địa bàn phường T, thành phố T, cơ quan chức năng đã phát hiện Phạm Văn H đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, cụ thể: Từ ngày 7/7/2022 cho đến ngày 09/01/2025, Phạm Văn H đã cho chị Phạm Khánh T2 vay hai lần tiền, với mức lãi suất từ 17,5%/tháng đến 32,2%/tháng, cao gấp 10,4 lần đến 19,2 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Trong đó, tổng số tiền gốc H dùng để cho vay là 571.000.000 đồng; thu lợi bất chính 374.967.750 đồng; số tiền lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự tương đương 20%/năm là 61.057.250 đồng. Hành vi trên của Phạm Văn H đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Phạm Văn H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất vụ án:

Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo H thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm lợi ích hợp pháp của công dân và gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật, là gây thiệt hại cho người vay bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng chỉ vì động cơ tư lợi muốn kiếm tiền nhanh mà không phải thông qua lao động chân chính, bị cáo đã lợi dụng người đi vay tiền đang khó khăn cần tiền (mặc dù người đi vay là chỗ quen biết, tự nguyện, không bị bị cáo ép buộc vay) để cho vay với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém. Với hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, xét tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cũng xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo bị tai biến, sức khỏe yếu (do bị nhồi máu não bán cầu trái). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, hiện nay bị cáo sức khỏe yếu, không thể đi làm, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với những người cho H vay tiền gồm Đặng Văn Đ, Phan Thị L1, Lưu Bá H1 và Phạm Văn C. Những người này đều là bạn bè quen biết với Phạm Văn H, do thấy bạn thân là H xây nhà thiếu tiền và công việc làm ăn thua lỗ nên cho H vay tiền không lấy lãi suất và không biết việc H cho chị T2 vay lấy lãi suất cao nên không có căn cứ xử lý hình sự và họ cũng không có yêu cầu gì đối với bị cáo H trong vụ án này nên Tòa án không triệu tập họ tham gia tố tụng trong vụ án này.

[7] Trách nhiệm dân sự: Chị T2 yêu cầu bị cáo trả lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính thực tế bị cáo H đã thu của chị. Do đó, buộc bị cáo H phải trả lại cho chị T2 tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo H đã thu là 374.967.750 đồng;

[8] Các vấn đề khác:

  • - Đối với số tiền gốc 571.000.000 đồng; số tiền lãi suất tương đương 20%/năm là bị cáo H đã sử dụng để cho vay lãi nặng là phương tiện phạm tội và thực tế người vay đã trả cho bị cáo nên truy thu để nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự.
  • - Truy thu để nộp vào ngân sách Nhà nước đối với số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/năm) mà thực tế bị cáo đã thu của chị T2 là 61.057.250 đồng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự.

Tổng số tiền truy thu để nộp vào ngân sách Nhà nước đối với bị cáo H là:

571.000.000 đồng + 61.057.250 đồng = 632.057.250 đồng.

[9] Về án phí hình sự: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 5% trên số tiền 374.967.750 đồng là 18.748.388 đồng;

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 2 Điều 201, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

  • - Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021.

Truy thu số tiền 632.057.250 (Sáu trăm ba mươi hai triệu không trăm năm mươi bảy ngàn hai trăm năm mươi) đồng với bị cáo Phạm Văn H để nộp vào ngân sách Nhà nước, nộp tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Văn H phải trả lại cho chị Phạm Khánh T2 số tiền thu lợi bất chính là 374.967.750 (Ba trăm bảy mươi tư triệu chin trăm sáu mươi bảy ngàn bảy trăm năm mươi) đồng;

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

  • Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  • Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 18.748.388 (Mười tám triệu bảy trăm bốn mươi tám ngàn ba trăm tám mươi tám) đồng.

5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 456/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 456/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tù giam
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger