|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 456/2025/HS-PT Ngày 26/5/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Thu Hường |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Trâm Anh |
| Ông Hoàng Văn Thành |
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 268/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo Đinh Vũ T, Hoàng Văn S do có kháng cáo của bị cáo Đinh Vũ T, Hoàng Văn S đối với bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
- Đinh Vũ T, sinh ngày 29/11/2006, tại Hà Nội; HKTT: Số I phố T, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Số nhà H, phố T, thị trấn P, huyện Đ, thành phố Hà Nội (khi phạm tội 17 tuổi, 3 tháng 25 ngày); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Khánh H (đã chết); Con bà Nguyễn Thị H1; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 25/03/2024, Công an huyện H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2024 đến ngày 03/10/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Hoàng Văn S, sinh ngày 20/6/1998, tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T1; Con bà Bùi Thị T2; Vợ: Nguyễn Thị Thanh H2;
Có 03 con (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2023); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2024 đến ngày 03/10/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- - Người bào chữa cho bị cáo Đinh Vũ T: ông Bùi Minh K, Luật sư Công ty L2, Đoàn Luật sư thành phố H
- Địa chỉ: Số H, ngõ H đường N, tổ I, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội (có mặt)
- - Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Đinh Vũ T: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1981.
- Trú tại: Số nhà H, phố T, thị trấn P, huyện Đ, thành phố Hà Nội (có mặt)
- - Bị cáo không kháng cáo và không được Tòa án triệu tập: Lê Hữu H3, Đàm Văn H4, Lê Anh T3, Đào Anh P, Lê Đức M, Phạm Anh Q, Nguyễn Văn L không kháng cáo và không bị kháng nghị nên tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bức xúc về việc anh Lê Trọng N vay số tiền 10.000.000 đồng và đã trả được một phần, còn nợ 5.000.000 đồng nhưng có thái độ thách thức nên Đinh Vũ T hẹn gặp anh N ở khu vực tượng đài Phụ nữ ba đảm đang thuộc thị trấn P, huyện Đ để nói chuyện.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/3/2024, T cùng với Hoàng Văn S và Lê Hữu H3 đi đến khu vực tượng đài Phụ nữ ba đảm đang để gặp anh N theo như đã hẹn trước đó, rồi cả nhóm sẽ rủ nhau đi ăn đêm. Lúc này, S điện thoại rủ anh Nguyễn Đình T4; H3 gọi điện thoại rủ Lê Anh T3 và anh Nguyễn Quốc T5 (là bạn với H3) đến để cùng đi ăn đêm với nhau. Khi H3 gọi điện thoại thì T3 đang ở khu vực thị trấn T, huyện H, thành phố Hà Nội cùng với nhóm bạn, gồm Đàm Văn H4 (sinh năm 2004 ở thôn A, xã T, huyện Đ); Phạm Anh Q; Nguyễn Văn L; Lê Đức M; Đào Anh P; Nguyễn Văn Thế A; anh Nguyễn Văn Q1 và anh Nguyễn Văn D. Do đó, T3 nói với nhóm bạn của mình đi đến thị trấn Phùng có việc, thì tất cả đều đồng ý. Sau đó, Nguyễn Văn Thế A điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen, biển kiểm soát 29X3-595.66 chở lần lượt Q và H4 (H4 ngồi sau cầm 01 khẩu súng bằng nhựa, dạng súng lục, phần nòng súng dài 22 cm, báng súng dài 15cm, màu nâu đỏ); Nguyễn Văn D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển kiểm soát 29X3-620.79 chở lần lượt Q1 và T3 (T3 ngồi sau cầm theo 01 khẩu súng bằng nhựa, hình dạng súng AK, bắn đạn bi nhựa, có kích thước dài khoảng 75cm) di chuyển đến khu vực tượng đài Phụ nữ ba đảm đang trước; còn M điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển kiểm soát 29X5-752.16 chở L và P về nhà M để lấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 29V3-461.50 của P để tại đó. Sau khi lấy được xe máy, P điều khiển xe đi một mình; M điều khiển xe chở L cùng đi đến khu vực tượng đài Phụ nữ ba đảm đang. Trên đường đi, P nhận được điện thoại của H4 rủ đến thị trấn Phùng để đánh nhau, P
đồng ý. Đồng thời, P nói cho L và M biết về việc H4 rủ đến thị trấn P đánh nhau thì L và M cũng đồng ý. Khi đến khu vực tượng đài Phụ nữ ba đảm đang, cả nhóm gặp nhau gồm có Đàm Văn H4, Phạm Anh Q, Lê Anh T3, Nguyễn Văn L, Hoàng Văn S, Đinh Vũ T, Lê Hữu H3, Lê Đức M, Đào Anh P và Nguyễn Văn Thế A. Còn anh Nguyễn Văn D điều khiển xe máy chở anh Nguyễn Văn Q1 đi lên phía trên (cách đó khoảng 30m) dừng lại, đứng chơi.
Khoảng 10 phút sau, anh Lê Trọng N điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng chở theo anh Nguyễn Văn C đi đến gặp T. Khi gần đến nơi, anh C xuống xe và đứng tại khu vực cổng làng T thuộc thị trấn P, huyện Đ (cách khu vực nhóm của T đứng khoảng 50m) để chờ anh N. Do bực tức về việc trước đó T gọi điện thoại và bị anh N chửi nên thấy anh N đến, T chạy đến xe ô tô của S đang đỗ gần đó, mở cốp xe lấy 01 chiếc gậy bi-a (làm bằng gỗ, dài khoảng 70cm, hình tròn, đường kính khoảng 03cm-04cm) vụt 01 phát từ trên xuống dưới anh N, giơ tay phải lên đỡ thì bị thương tích ở khuỷu tay phải. Anh N bỏ chạy sang bên đường đối diện và chạy đến bờ tường siêu thị L3, đầu ngõ T thì bị ngã. Cùng lúc đó S, H3 và 01 nam thanh niên (là bạn của T3, không xác định được) lấy gậy bi-a trong cốp xe của S để cùng T đuổi đánh anh N. S, T và nam thanh niên (bạn của T3) đuổi tới, T cầm gậy bi - a đánh một cái vào đùi của anh N. Khi đuổi, S liên tục chửi to “Đ, mẹ mày đứng lại”, “Đ, bà mày đứng lại”. Lúc này, H3 phát hiện thấy anh C đang dùng điện thoại quay Video Clip nên chạy đến túm áo, chửi anh C và gọi to: “Anh T5 ơi, có thằng quay Video này” thì H3 và S bị anh C cầm bình xịt côn trùng xịt vào mặt. Thấy vậy, T3 cầm theo khẩu súng nhựa, hình dạng giống súng AK, bắn đạn bi nhựa, kích thước dài 75cm. H4 cầm theo khẩu súng làm bằng nhựa, dạng súng lục, phần nòng súng dài 22cm, tay cầm dài 15cm, màu nâu đỏ chạy bổ sung chỗ H3. Anh C sợ đã bỏ chạy sang đường và trốn vào quán ăn T7 thuộc phố P, thị trấn P, huyện Đ. Thấy anh C bỏ chạy, Q điều khiển xe máy Vision chở T, P điều khiển xe máy chở T3 và H4 cầm theo súng nhựa đuổi theo anh C để đánh và xóa video. Lúc này, M điều khiển xe máy chở L cùng vừa đi tới đầu phố P, H4 bảo đuổi theo anh C nhưng không đuổi được. Cùng lúc này anh Lưu Xuân Đ (là bạn anh C) đang ăn xôi gần đó nhìn thấy anh C bị đuổi đánh nên chạy ra xem. Do không tìm thấy anh C, Q điều khiển xe máy quay ra thì gặp anh Đ, T hỏi anh Đ “Chúng nó đâu rồi?” thì anh Đ trả lời không biết thì bị T dùng gậy bi-a vụt 03 cái trúng vào vùng gáy và lưng gây thương tích phần mềm. Anh Nguyễn Thành L1 (sinh năm 2004 ở xã H, huyện Đ, là bạn của anh Đ) chạy đến can ngăn. Cùng lúc, xe máy do P điều khiển phóng xe nhanh, đi ngược chiều đường 32, chở T3 ngồi giữa cầm 01 khẩu súng dài bằng nhựa nòng súng dài 22cm, tay cầm dài 15cm giơ ra bên ngoài bên ngoài, H4 ngồi sau cầm 01 khẩu súng ngắn bằng nhựa, khi gặp và phát hiện anh Đ là bạn nên H4 bảo P chở H4 và T3 bỏ đi. Anh Lưu Trọng N1, Lưu Xuân Đ, Nguyễn Văn C phải đi bệnh viện điều trị. Khi tham gia đuổi đánh anh N1, anh C, nhóm của Đinh Vũ T chửi bới, hô hét, điều khiển phương tiện xe máy đi ngược chiều, cầm súng nhựa, làm mất an toàn giao thông.
Sau khi tiếp nhận tố giác về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết, tài liệu, chứng cứ vụ án. Tại hiện trường phát hiện và thu giữ 01 gậy gỗ chọc bi-a dài 34.5cm, đầu dưới đường kính 3cm, đầu trên đường kính 2,5cm, màu đen trắng, phần gỗ màu vàng, đầu dưới có dòng chữ “Plus Billiards”; 01 đoạn gậy chọc bi-a dài 39,5cm, đầu dưới gỗ màu vàng đường kính 2.5cm, đầu trên bằng kim loại có ốc xoáy kim loại ở giữa, phần giữa đoạn gậy có màu đen trắng.
Tại biên bản trao đổi hồi 00 giờ 15 phút ngày 26/03/2024 ở Bệnh viện Đa khoa huyện Đ, thể hiện: “Bệnh nhân Nguyễn Văn C: Vào viện lúc 23 giờ 30 phút trong tình trạng tỉnh, G: 15 điểm, hoạt động tốt; đau đầu, nôn ra thức ăn; không liệt, tim đều, phổi thô. Bệnh nhân chuyển đi Bệnh viện X để điều trị. Bệnh nhân Lê Trọng N: Vào viện lúc 23 giờ 30 phút trong tình trạng tỉnh, G: 15 điểm; đau đầu, không nôn, không liệt; đau vai phải, đau khuỷu tay trái, vận động được; tim đều, phổi thô. Bệnh nhân chuyển đi Bệnh viện X để điều trị. Bệnh nhân Lưu Xuân Đ: Vào viện lúc 23 giờ 40 phút trong tình trạng tỉnh; G: 15 điểm; vết thương sây sát cẳng chân phải, khuỷu tay phải; đau đầu, không nôn, không liệt. Bệnh nhân chuyển đi Bệnh viện X để điều trị.”
Tại biên bản trao đổi hồi 10 giờ 15 phút ngày 26/07/2024 ở Bệnh viện X, thể hiện: “Tình trạng thương tích của anh Lê Trọng N: Vào viện trong tình trạng tỉnh, đau đầu, chóng mặt, nôn nhiều; đồng tử hai bên đều; vết thương sây sát vùng khuỷu tay, ngực vững, bụng mềm đau quanh rốn; các cơ quan khác không phát hiện tổn thương. Tình trạng thương tích của anh Lưu Xuân Đ: Vào viện trong tình trạng tỉnh, đau đầu, nôn nhiều; đau vai phải, sây sát vùng khuỷu tay phải, hông phải, gối phải, vai phải; ngực vững, bụng mềm; các cơ quan khác không phát hiện tổn thương. Tình trạng thương tích của anh Nguyễn Văn C: Vào viện trong tình trạng tỉnh, đau đầu; sây sát, đau cẳng tay phải; các cơ quan khác không phát hiện tổn thương. Hiện tại các bệnh nhân trên đều theo dõi tại nhà và không nằm viện.”
Anh N, Đ và C đều từ chối giám định thương tích.
Quá trình điều tra vụ án, Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Đ đã có Văn bản số 478/CV-TTP ngày 28/03/2024 gửi Cơ quan điều tra với nội dung: “...Hành vi của các đối tượng rất nguy hiểm, coi thường pháp luật, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và gây mất an ninh trật tự tại địa phương, đề nghị điều tra, xử lý nghiêm...”.
Tại bản cáo trạng số 120/CT-VKSĐP ngày 30 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo Đinh Vũ T, Lê Hữu H3, Đàm Văn H4, Lê Anh T3, Đào Anh P, Hoàng Văn S, Lê Đức M, Phạm Anh Q, Nguyễn Văn L về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.
Bản án sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Vũ T, Lê Hữu H3, Đàm Văn H4, Lê Anh T3, Đào Anh P, Hoàng Văn S, Lê Đức M, Phạm Anh Q, Nguyễn Văn L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đinh Vũ T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được trừ thời gian đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2024 đến ngày 03/10/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được trừ thời gian đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2024 đến ngày 03/10/2024.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/01/2025 bị cáo Đinh Vũ T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; ngày 24/01/2025 bị cáo Hoàng Văn S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Đinh Vũ T và Hoàng Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử, giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Đinh Vũ T không nhất trí hủy án sơ thẩm theo đề nghị của luật sư.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đinh Vũ T đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo và được hưởng án treo.
- Người bào chữa cho bị cáo T đề nghị: Bị cáo S là người chủ mưu, T không phải là người chủ mưu. S yêu cầu T nhận thay S. Do nhận thức pháp luật của T còn hạn chế nên đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo và đề nghị hủy án sơ thẩm để làm rõ những nội dung sau: làm rõ mối quan hệ giữa T và S; Hiện nay có 01 người chưa xác định được nhân thân nhưng không khởi tố là bỏ lọt tội phạm, đề nghị khởi tố đối với người chưa xác định được nhân thân; đề nghị xem xét đến việc S và H2 (vợ S) có phạm tội cho vay nặng lãi không; 04 tháng chạy trốn thì S và H2 ở đâu?
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa, sau khi xem xét kháng cáo của bị cáo, đề nghị:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm kết án các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật. Mức hình phạt của bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp với mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo S. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Giữ nguyên bán án sơ thẩm. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Vũ T và bị cáo Hoàng Văn S đúng về chủ thể kháng cáo, nộp trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Theo lời khai của các bị cáo, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 25/03/2024, tại khu vực tượng đài Phụ nữ Ba đảm đang thuộc thị trấn P, huyện Đ, thành phố Hà Nội, bị cáo Đinh Vũ T hẹn anh Lê Trọng N đến giải quyết mâu thuẫn cá nhân từ việc vay nợ tiền với nhau. T rủ Hoàng Văn S, Lê Hữu H3 đi cùng. Học gọi điện thoại rủ Lê Anh T3. Khi đó T3 đang ở cùng Phạm Anh Q, Đào Anh P, Lê Đức M, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn Thế A nên đã bảo tất cả đi cùng mình. Khi anh N cùng bạn là anh Nguyễn Văn C đến gặp, do bực tức với anh N nên T chạy đến ô tô của S đang đỗ gần đó, mở cốp xe lấy gậy tròn bi a bằng gỗ (dài khoảng 70cm, đường kính 3 - 4cm) đánh N, anh N giơ tay lên đỡ và bị thương tích ở khuỷu tay phải. S, H3 cùng một nam thanh niên (chưa rõ nhân thân) cũng lấy gậy bi a trong cốp xe của S cùng đuổi đánh anh N. Khi đuổi đánh, S liên tục hô hét, chửi bới làm anh N phải bỏ chạy, khi đến bờ tường siêu thị L3 (đầu phố T, thị trấn P) bị ngã, T cầm gậy bi a đánh một cái vào đùi anh N. Lúc đó, S, H3 thấy anh C đứng gần đó đang dùng điện thoại quay video thì chạy đến, H3 dùng tay túm áo và chửi anh C. T3 cầm theo khẩu súng lục bằng nhựa, bắn bằng đạn nhựa chạy sang nên anh C cầm bình xịt côn trùng xịt vào mặt H3, S và bỏ chạy sang đường, trốn vào quán ăn T6 thuộc phố T, thị trấn P. Thấy vậy, Q điều khiển xe máy chở T, còn P điều khiển xe máy chở T3, H4 đuổi theo để đánh anh C và xoá Video. Lúc đó, M điều khiển xe máy chở L đi đến đầu phố P thì gặp H4 và H4 bảo đuổi theo anh C. T đuổi theo anh C nhưng không đuổi được nên quay lại thì khi đó, anh Lưu Xuân Đ nhìn thấy sự việc chạy ra xem thì T hỏi “Chúng nó đâu rồi?” anh Đ trả lời không biết thì bị T dùng gậy bi a vụt 03 cái trúng vào vùng gáy, lưng. Khi đuổi theo thì P điều khiển xe máy đi ngược chiều đường Quốc lộ 32 với tốc độ nhanh, chở T3 ngồi giữa cầm 01 khẩu súng dài bằng nhựa giơ ra bên ngoài, H4 ngồi sau cầm 01 khẩu súng ngắn bằng nhựa, khi gặp và phát hiện anh Đ là bạn nên H4 bảo P chở H4 và T3 bỏ đi. Anh Lưu Trọng N1, Lưu Xuân Đ, Nguyễn Văn C phải đi bệnh viện điều trị. Khi tham gia đuổi đánh anh N1, anh C, nhóm của Đinh Vũ T chửi bới, hô hét, điều khiển phương tiện xe máy đi ngược chiều, cầm súng nhựa, làm mất an toàn giao thông.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đinh Vũ T, Hoàng Văn S về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Đinh Vũ T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nhân thân có 01 tiền sự chưa hết thời hiệu; bị cáo là người chủ động rủ các bị cáo khác phạm tội và dùng gậy bi a vụt 03 cái trúng vào vùng gáy, lưng anh Đ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến nhân thân, vai trò và hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo 21 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Xét kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn S, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bị cáo có vai trò đồng phạm trong tội gây rối trật tự công cộng, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; vai trò phạm tội của bị cáo sau bị cáo T, mức hình phạt của tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo phù hợp với quy định của pháp luật, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do kháng cáo của các bị cáo Đinh Vũ T, Hoàng Văn S không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo không có căn cứ và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đinh Vũ T, bị cáo Hoàng Văn S; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
-
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đinh Vũ T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2024 đến ngày 03/10/2024.
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2024 đến ngày 03/10/2024.
- Về án phí: Căn cứ điểm a,b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu Hường |
Bản án số 456/2025/HS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 456/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HSPT - Đinh Vũ Toàn và đp
