|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 456/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/6/2025 Về việc: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Mạnh Tuấn |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Đình Hiền Ông Nguyễn Văn Thông |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Nguyễn Mạnh Đức – Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông. |
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thanh Hương- Kiểm sát viên.
Ngày 26/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 239/2025/TLST-HNGD ngày 09/04/2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXX-ST ngày 29/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐHPT-ST ngày 09/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐHPT-ST ngày 17/6/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 18/4/1987. Nơi thường trú: Tổ dân phố R, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện tại: thôn P, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Ngô Văn V, sinh ngày 08/03/1987. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố R, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Tại Đơn xin ly hôn, các Bản tự khai, Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị T và anh Ngô Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 25/02/2010 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận H, Thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn anh chị chưa kết hôn lần nào. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2024, chị và anh V phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo chị trình bày, do chị và anh V có tính cách, quan điểm, lối sống khác nhau nên cuộc sống vợ chồng thường nảy sinh những bất đồng, căng thẳng dẫn tới mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình và sự phát triển của con chung. Bản thân anh V cũng không quan tâm, chia sẻ trong cuộc sống hôn nhân làm ảnh hưởng đến tâm lý, sinh hoạt của gia đình. Anh chị đã tìm mọi cách để cải thiện mối quan hệ vợ chồng nhưng không có kết quả. Gia đình hai bên nội ngoại đã hòa giải nhiều lần nhưng tình trạng hôn nhân của anh chị không tiến triển mà ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị T xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Sau thời gian suy nghĩ kỹ, chị đề nghị Tòa án nhân dân quận Hà Đông giải quyết cho chị được ly hôn anh Ngô Văn V để chị sớm ổn định cuộc sống và tư tưởng.
Về con chung: Chị xác nhận chị và anh V có 02 con chung là cháu Ngô Ngọc T1 Anh sinh ngày 20/01/2016, giới tính nữ và cháu Ngô Ngọc Châu A sinh ngày 20/8/2010, giới tính nữ. Con chung khoẻ mạnh phát triển bình thường. Chị đề nghị Toà án giao con chung là cháu Ngô Ngọc T1 Anh sinh ngày 20/01/2016 cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V trực tiếp nuôi cháu Ngô Ngọc Châu A sinh ngày 20/8/2010. Chị T không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]. Bị đơn là anh Ngô Văn V:
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập, thông báo nhiều lần nhưng anh V đều vắng mặt không có lý do. Anh V không đến Tòa án làm việc, không tham dự các buổi hoà giải, không gửi văn bản nêu quan điểm, ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị T vắng mặt, chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm, ý kiến đã gửi cho Toà án. Anh Ngô Văn V đã được thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản, ý kiến trình bày quan điểm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Ngô Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 25/2/2010 tại UBND phường B, quận H, TP .. Quá trình chung sống, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung, không thông cảm và thấu hiểu cho nhau cuộc sống chung không hòa hợp. Vợ chồng đã sống ly thân. Đến nay, xác định anh chị không còn tình cảm, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T có yêu cầu xin ly hôn với anh V.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Ngô Ngọc Châu A, sinh ngày 20/8/2010 và cháu Ngô Ngọc Trâm A1, sinh ngày 20/1/2016. Ly hôn, chị T đề nghị Toà án giao con chung là cháu Ngô Ngọc T1 Anh sinh ngày 20/01/2016 cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V trực tiếp nuôi cháu Ngô Ngọc Châu A sinh ngày 20/8/2010. Chị T không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, chị T có công việc, thu nhập, chỗ ở ổn định, đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Để đảm bảo sự ổn định trong sinh hoạt, học tập và các điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất, cũng như phù hợp với tâm sinh lý và sự phát triển của các cháu sau này nên yêu cầu của chị T là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn là anh Ngô Văn V, có hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố R, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
1.2. Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn:
Qua xác minh nơi cư trú của anh Ngô Văn V, có cơ sở xác định anh V có nơi cư trú và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố R, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ, thông báo nhiều lần nhưng anh V vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Ngô Văn V tại địa chỉ nơi cư trú để anh V biết được yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn nhưng anh V đều vắng mặt, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ, không chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không có yêu cầu phản tố và không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa theo quy định. Như vậy, anh V đã không thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng, vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà chị Nguyễn Thị T giao nộp và Tòa án thu thập theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh V vắng mặt lần thứ ba nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh V.
Chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm, ý kiến đã gửi cho Toà án.
2. Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Ngô Văn V:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị T và anh Ngô Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 25/02/2010 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận H, Thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn anh chị chưa kết hôn lần nào, tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị và anh V có tính cách, quan điểm, lối sống khác nhau nên cuộc sống vợ chồng thường nảy sinh những bất đồng, căng thẳng dẫn tới mâu thuẫn không thể giải quyết được. Anh chị đã tìm mọi cách để cải thiện mối quan hệ vợ chồng nhưng không tìm được tiếng nói chung. Gia đình hai bên nội ngoại đã hòa giải nhiều lần nhưng tình trạng hôn nhân không tiến triển mà ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị T xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, hai vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Anh V đã được Toà án thông báo, triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên hoà giải, phiên toà và không gửi quan điểm nên Toà án tiến hành giải quyết vắng mặt theo quy định.
Nhận thấy, vợ chồng chị T, anh V đã không thực hiện các nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19, 21 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 là: thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, chia sẻ, thực hiện các công việc của gia đình. Tình trạng hôn nhân của chị T, anh V cũng phù hợp với Biên bản xác minh ngày 13/6/2025 tại địa phương.
Từ những phân tích trên, xét quan hệ hôn nhân giữa chị T, anh V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và có nguyện vọng muốn ly hôn để ổn định cuộc sống. Xét yêu cầu ly hôn của chị T là chính đáng do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh V.
2.2. Về con chung: Chị T và anh V có 02 con chung là cháu Ngô Ngọc T1 Anh sinh ngày 20/01/2016, giới tính nữ và cháu Ngô Ngọc Châu A sinh ngày 20/8/2010, giới tính nữ. Con chung khoẻ mạnh phát triển bình thường. Chị T đề nghị Toà án giao con chung là cháu Ngô Ngọc T1 Anh sinh ngày 20/01/2016 cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V trực tiếp nuôi cháu Ngô Ngọc Châu A sinh ngày 20/8/2010. Chị T không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy: Theo văn bản trình bày nguyện vọng hai con chung của chị T, anh V thì các cháu đồng ý được ở với mẹ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh V không gửi cho Toà án quan điểm, ý kiến về việc nuôi con. Hiện chị T đã ổn định công việc, thời gian làm việc và có chỗ ở hợp pháp, nên có đủ điều kiện về thời gian, vật chất để nuôi con. Anh V hiện đang sinh hoạt, ở cùng nhà với bố mẹ đẻ, có đủ điều kiện về thời gian, vật chất để chăm sóc nuôi con. Do đó, để hai con chung không bị ảnh hưởng sinh hoạt, phát triển bình thường về tâm sinh lý và để đảm bảo quyền lợi cho con chung, cần chấp nhận đề nghị và giao chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Ngô Ngọc T1 Anh sinh ngày 20/01/2016, anh V trực tiếp nuôi cháu Ngô Ngọc Châu A sinh ngày 20/8/2010, kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác về quyền nuôi con. Chị T, anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T, anh V mỗi người nuôi một con chung, nên chấp nhận đề nghị của chị T, không yêu cầu chị T và anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Chị T là nguyên đơn, phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các Điều: 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Ngô Văn V. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Ngô Văn V.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị T, anh Ngô Văn V có 02 con chung là cháu Ngô Ngọc T1 Anh sinh ngày 20/01/2016, giới tính nữ và cháu Ngô Ngọc Châu A sinh ngày 20/8/2010, giới tính nữ. Giao chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngô Ngọc T1 Anh sinh ngày 20/01/2016, giao anh Ngô Văn V trực tiếp nuôi cháu Ngô Ngọc Châu A sinh ngày 20/8/2010, kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác về quyền nuôi con. Chị T, anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T, anh Ngô Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0045104 ngày 09/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, vắng mặt chị Nguyễn Thị T và anh Ngô Văn V. Chị Nguyễn Thị T và anh Ngô Văn V có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Nguyễn Mạnh T2 |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Mạnh Tuấn |
Bản án số 456/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 456/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA.456.Thoa - Vững.26.6.25
