|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 456/2023/DS-PT Ngày: 31.10.2023 V/v "Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Bà Phan Thị Hồng Dung
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 309/2023/TLPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 10/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 487/2023/QĐ - PT ngày 09 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1972.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 26 tháng 10 năm 2022).
-
* Bị đơn: 1. Bà Võ Thị Thùy N, sinh năm 1977.
2. Ông Nguyễn Đức D, sinh năm 1972.
Cùng trú tại: ấp T, xã T, huyện T, Tp ..
-
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Võ Thị Thùy N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Vào năm 2020 – 2021, do quen biết nên bà Nguyễn Thị Thu H cho vợ chồng bà Võ Thị Thùy N và ông Nguyễn Đức D vay tiền 04 lần, cụ thể:
- Lần 1: Ngày 20/6/2020 âm lịch, bà N, ông D vay số tiền 131.000.000 đồng, có biên nhận viết tay do bà N tự viết là “Tờ viết tay đề ngày 20/6/2020 âl”, việc giao nhận tiền tại Văn phòng C.
- Lần 2: Ngày 01/9/2020 âm lịch, bà N, ông D vay số tiền 6.400.000 đồng, có lập biên nhận viết tay do bà N tự viết là “Tờ viết tay đề ngày 1/9/2020 âl”, việc giao nhận tiền tại nhà bà H.
- Lần 3: Cùng ngày 01/9/2020 âm lịch, bà N, ông D vay thêm số tiền 7.600.000 đồng. Lần cho vay này không lập biên nhận riêng, việc giao nhận tiền tại nhà bà H.
- Tổng cộng 03 lần vay số tiền 145.400.000 đồng, các bên thống nhất lập tờ chốt nợ là “Văn bản thoả thuận về việc vay tiền không thế chấp, không đề ngày tháng năm, có bà N và bà H ký tên”.
- Lần 4: Ngày 08/11/2021 dương lịch, bà N, ông D vay số tiền 10.000.000 đồng. Lần cho vay này không lập biên nhận vay riêng mà lập “Hợp đồng vay tài sản ngày 08/11/2021”, được công chứng tại Văn phòng C1 để chốt nợ của 04 lần vay, việc giao nhận tiền vay tại Văn phòng C1.
Bà N, ông D vay 04 lần với tổng số tiền là 155.000.000 đồng, hai bên có thoả thuận lãi suất bằng 1,5%/tháng, không thoả thuận thời hạn trả nợ vay. Đến nay bà N, ông D có đóng cho bà H được khoảng 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng tiền lãi thì không trả lãi cũng như trả vốn gốc. Bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu giải quyết buộc bà Võ Thị Thùy N có trách nhiệm trả cho bà H số tiền vay là 171.100.000 đồng (trong đó: nợ gốc là 155.000.000 đồng) và nợ lãi tính từ ngày 08/11/2021 đến nay là 16.100.000 đồng và yêu cầu bà N tiếp tục trả lãi phát sinh đến khi trả xong nợ. Phía nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với ông D, chỉ yêu cầu bà N trả nợ.
Bị đơn bà Võ Thị Thùy N trình bày: Bà N xác định không yêu cầu phản tố trong vụ án. Bà không đồng ý với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn. Bà thừa nhận có nợ tiền vay 6.400.000 đồng và nợ tiền hụi chết là 17.000.000 đồng, ngoài ra không nợ khoản tiền nào khác. Cụ thể như sau: Do quen biết nên vào ngày 01/9/2020 âm lịch, bà vay số tiền 6.400.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thu H, có lập biên nhận viết tay là “Tờ viết tay đề ngày 1/9/2020 âm lịch” do bà viết, việc giao nhận tiền tại nhà bà H. Việc cho vay có thoả thuận lãi suất nhưng bà không rõ là bao nhiêu do bà H kêu đóng bao nhiêu thì bà đóng theo yêu cầu. Do hoàn cảnh khó khăn không có khả năng trả nợ gốc nên lãi tăng lên, bà H buộc bà phải tham gia 01 chân hụi tháng 3.000.000 đồng nhưng thực tế người đứng tên chơi dây hụi là bà H, tiền hụi thì hàng tháng bà đóng trực tiếp cho bà H, không đưa cho chủ hụi nhằm để bà H cấn trừ nợ, bà không rõ chủ hụi là ai, số hụi viên, việc kêu khui hốt hụi. Do hoàn cảnh khó khăn nên bà không đóng đầy đủ, đóng được khoảng 6, 7 lần với số tiền 3.000.000 đồng/lần thì không đóng nữa. Việc thoả thuận hụi để cấn trừ nợ với bà H cũng như việc đóng hụi cho bà H không lập giấy tờ gì, không ai chứng kiến và bà cũng không giữ bất kỳ giấy tờ hụi nào. Dây hụi này bà H đã kêu hốt và sau khi cấn trừ nợ bà H cho rằng bà còn thiếu tiền bà H chưa đóng là 17.000.000 đồng. Như vậy, bà chỉ thiếu bà H tiền vay 6.400.000 đồng và nợ tiền hụi chết là 17.000.000 đồng. Nay vợ chồng bà đồng ý trả cho bà Nguyễn Thị Thu H 23.400.000 đồng này, ngoài ra không đồng ý trả lãi vay và số tiền nào khác. Việc thiếu khoản nợ nêu trên thì bà có nói cho chồng là ông Nguyễn Đức D biết nên ông D cũng thống nhất cùng bà trả số tiền 23.400.000 đồng. Bà thừa nhận có ký tên vào Hợp đồng vay tài sản ngày 08/11/2021 nhưng do thiếu hiểu biết pháp luật, bị lừa dối nên khi bà H kêu ký xác nhận nợ bà nghĩ là khoản nợ 23.400.000 đồng và đồng ý ký mà không xem, đọc lại nội dung. Ngoài ra, bà không ký tên và không viết biên nhận “Tờ viết tay đề ngày 20/6/2020 âm lịch” và “Văn bản thoả thuận về việc vay tiền không thế chấp” nhưng xác định không có yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết mà yêu cầu xem xét theo pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Đức D trình bày: Ông chỉ nghe vợ ông nói lại là thiếu bà Thu H 17.000.000 đồng. Vào năm 2020, vợ ông có vô vay thêm của bà Thu H là 6.400.000 đồng. Ông chỉ biết là vợ ông thiếu của bà Thu H tổng số tiền là 23.400.000 đồng. Ngoài ra vợ ông không có vay bất cứ số tiền nào hết.
Tại bản án sơ thẩm số 80/2022/DSST ngày 10/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H. Buộc bà Võ Thị Thùy N có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền vốn gốc là 155.000.000 đồng và số tiền lãi là 16.100.000 đồng. Tổng cộng là Võ Thị Thùy N có trách trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền là 171.100.000 (Một trăm bảy mươi mốt triệu một trăm nghìn) đồng.
Đối với số tiền phải thi hành, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Dành cho bà N một vụ kiện dân sự khác liên quan đến tranh chấp hụi (nếu có).
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với ông Nguyễn Đức D.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 21/7/2023, bị đơn bà Võ Thị Thùy N kháng cáo toàn bộ bản án yêu cầu Tòa án cấp phúc xem xét giải quyết bà N không đồng ý trả số tiền nợ gốc 155.000.000 đồng và tiền lãi 16.100.000 đồng phát sinh, bà N đồng ý trả số tiền 23.400.000 đồng. Bà N đề nghị giám định chữ ký trong các biên nhận vay số tiền 131.000.000 đồng, số tiền 6.400.000 đồn, số tiền 7.600.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H – ông Nguyễn Văn H1 trình bày: Nguyên đơn đồng ý rút một phần yêu cầu khởi kiện, nay yêu cầu bà Võ Thị Thùy N trả nợ gốc 145.000.000 đồng và không yêu cầu trả lãi số tiền 16.100.000 đồng.
Bị đơn bà Võ Thị Thùy N trình bày: Bà N cho rằng chỉ vay của bà H 23.400.000 đồng, đề nghị xem xét bà N không vay tiền nhiều lần của bà H mà do không có khả năng đóng lãi nên cộng dồn lãi chồng lên nên bà không hiểu biết đến Văn phòng công chứng ký hợp đồng vay thành số tiền 155.000.000 đồng. Trên thực tế bà chỉ vay 6.400.000 đồng và tiền hụi chết 17.000.000 đồng nên đồng ý trả số tiền 23.400.000 đồng, không đồng ý trả lãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các chứng có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn nhận thấy, nguyên đơn khởi kiện và cung cấp chứng cứ chứng minh bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 155.000.000 đồng, lãi suất theo thoả thuận là 1,5%/tháng, bị đơn chỉ thừa nhận nợ của nguyên đơn số tiền 23.400.000 đồng nên không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh khoản nợ như đã trình bày nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tại phiên toà, nguyên đơn đồng ý chỉ tính nợ gốc số tiền là 145.000.000 đồng và giảm toàn bộ tiền lãi 16.100.000 đồng cho bị đơn, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên ghi nhận. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn trả nợ gốc 145.000.000 đồng và không yêu cầu trả lãi 16.100.000 đồng và đề nghị điều chỉnh án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị Thùy N trong hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo đầy đủ nên được xem xét theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung và yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
Xét thấy, căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự xác định giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H với bị đơn bà Võ Thị Thùy N có giao dịch vay tiền. Nguyên đơn cho rằng bà N 04 lần vay mượn tiền và cung cấp chứng cứ là Biên nhận, hợp đồng vay cụ thể như:
- Ngày 20/6/2020 âm lịch, bà N, ông D vay số tiền 131.000.000 đồng, bà N tự viết biên nhận viết tay.
- Ngày 01/9/2020 âm lịch, bà N, ông D vay số tiền 6.400.000 đồng, có lập biên nhận viết tay do bà N tự viết, việc giao nhận tiền tại nhà bà H.
- Cùng ngày 01/9/2020 âm lịch, bà N, ông D vay thêm số tiền 7.600.000 đồng, không lập biên nhận, việc giao nhận tiền tại nhà bà H.
- Tổng cộng 03 lần vay số tiền 145.400.000 đồng, các bên lập tờ chốt nợ là “Văn bản thoả thuận về việc vay tiền không thế chấp, không đề ngày tháng năm”, có chữ ký tên của bà N và bà H.
- Ngày 08/11/2021 dương lịch, bà N, ông D vay số tiền 10.000.000 đồng, không lập biên nhận vay riêng mà cùng lập “Hợp đồng vay tài sản ngày 08/11/2021”, tại Văn phòng C1 để chốt nợ của 04 lần vay.
Quá trình thực hiện giao dịch, bà N không trả được nợ gốc và nợ lãi theo thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc bà Võ Thị Thùy N trả cho bà H số tiền nợ vay là 171.100.000 đồng, trong đó nợ gốc 155.000.000 đồng và nợ lãi tính từ ngày 08/11/2021 đến khi xét xử sơ thẩm là 16.100.000 đồng. Đồng thời yêu cầu bà N tiếp tục trả lãi phát sinh đến khi trả xong nợ. Bà N không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của nguyên đơn mà chỉ đồng ý có trách nhiệm cá nhân trả cho bà H số tiền 23.400.000 đồng.
[2.1] Theo Biên bản ghi nhận kết quả hoà giải ngày 24/02/2023, Đơn yêu cầu giải quyết ngày 19/6/2022, Biên bản đối chất ngày 19/6/2023, bà N thừa nhận có ký tên vào hợp đồng vay tài sản ngày 08/11/2021 tại Văn phòng công chứng nhưng cho rằng chỉ còn nợ của bà H số tiền 23.400.000 đồng, còn việc ký tên vào Hợp đồng vay tài sản lúc đó bà N ký tên mà không đọc lại nội dung, do bản thân không hiểu biết và nghĩ rằng số tiền mà bà H nêu trong giấy là tiền thiếu từ năm 2018 dồn lên nhưng bà N xác định không yêu cầu giám định chữ ký, không yêu cầu phản tố. Tuy nhiên, qua xem xét hợp đồng vay tài sản ngày 08/11/2021 thấy rằng, trước khi ký tên bà N có ghi nhận “Tôi đã đọc và đồng ý ký tên”. Do vậy, bà N cho rằng thiếu hiểu biết nên mới ký mà không đọc lại nội dung là không có cơ sở thuyết phục. Bởi lẽ “Hợp đồng vay tài sản ngày 08/11/2021” là văn bản chốt nợ giữa nguyên đơn và bị đơn trong các lần vay trước, quá trình giải quyết vụ kiện bà N nhiều lần thừa nhận chữ ký xác nhận trong hợp đồng vay tài sản là do bà ký nên không yêu cầu giám định chữ ký, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết sự kiện, tài liệu, văn bản...mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do vậy, bà N kháng cáo đề nghị giám định lại chữ ký, chữ viết của bà trong các biên nhận là không có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Xét thấy, việc vay mượn tiền giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập theo biên nhận nợ của bà N ngày 20/6/2020 âm lịch với số tiền vay 131.000.000 đồng, biên nhận ngày 1/9/2020 âm lịch với số tiền vay 6.400.000 đồng, không ghi thời hạn, không ghi lãi suất và khoản vay thêm 7.600.000 đồng không có biên nhận nhưng trên cơ sở lời khai của bà N và tài liệu chứng cứ là “Văn bản thỏa thuận về việc vay tiền không thế chấp”, các bên chốt nợ số tiền 145.400.0000 đồng, tiền lãi 2.000.000/tháng, tương đương 1,38%/tháng nên cấp sơ thẩm xác định là hợp đồng vay tài sản có lãi suất, không kỳ hạn là có cơ sở.
Do vậy, việc bà H và bà N xác định nợ gốc 145.400.000 đồng và tự nguyện thỏa thuận lãi suất là trong phạm vi lãi suất theo quy định pháp luật.
Đến ngày 08/11/2021, các bên đến Văn phòng công chứng ký Hợp đồng vay tài sản, nội dung thể hiện số tiền bị đơn nhận nợ là 155.000.000 đồng, lãi suất 1,5%/tháng, giữa “Hợp đồng vay tài sản” với “Văn bản thỏa thuận về việc vay tiền không thế chấp” có chênh lệch số tiền 10.000.000 đồng nhưng bị đơn không chứng minh được có sự ép buộc, lừa dối của nguyên đơn khi ký giấy nhận nợ, cũng như không xuất trình được chứng bác bỏ nội dung Hợp đồng vay tài sản ngày 08/11/2021. Từ các chứng cứ trên, cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn phải trả nợ gốc, nợ lãi cho nguyên đơn là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên toà nguyên đơn đồng ý chỉ tính nợ gốc số tiền là 145.000.000 đồng theo “Văn bản thoả thuận về việc vay tiền không thế chấp” và giảm toàn bộ tiền lãi 16.100.000 đồng cho bà N, việc này thể hiện ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên ghi nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, cần buộc bà Võ Thị Thùy N có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền nợ gốc là 145.000.000 đồng
Ý kiến của Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
[3] Tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Đức D nên toà án đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
[4] Xét thấy, việc bà N trình bày về số chân hụi đã tham gia trong các dây hụi do bà H làm chủ và cho rằng còn thiếu lại bà H 17.000.000 đồng nhưng không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh và cũng không có yêu cầu phản tố nên không có cơ sở, cấp sơ thẩm không xem xét và dành cho bà N một vụ kiện dân sự khác khi phát sinh tranh chấp là phù hợp.
[5] Về án phí dân sự:
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Thùy N có nộp “Đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn đề ngày 31/10/2023, để xin giảm án phỉ”, được chính quyền địa phương xác nhận hoàn cảnh kinh tế khó khăn là sự thật. Xét thấy, hoàn cảnh của gia đình bà N hiện tại là lao động nghèo thu nhập thấp không ổn định, điều kiện kinh tế đang có nhiều khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận hoàn cảnh kinh tế khó khăn là sự thật. Căn cứ theo Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Q, Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bà N 50% án phí sơ thẩm phải nộp.
Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị Thùy N.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H. Buộc bà Võ Thị Thùy N có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền vốn gốc là 145.000.000 đồng.
Đối với số tiền phải thi hành, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Dành cho bà N một vụ kiện dân sự khác liên quan đến tranh chấp hụi (nếu có).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với ông Nguyễn Đức D.
-
Về án phí dân sự:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Võ Thị Thùy N phải có trách nhiệm nộp 3.625.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền tạm ứng án phí 4.275.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005031 ngày 08 tháng 3 năm 2023 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai.
- - Về án phí phúc thẩm: Bà Võ Thị Thùy N phải nộp 300.000 đồng, số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005264 ngày 21/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bích Hải |
Bản án số 456/2023/DS-PT ngày 31/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 456/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HĐ vay tài sản
