|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 455/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-11-2024 Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Quang Bảo
- Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Công Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.
Vào ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 402/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1979; số Căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà A đường T, tổ dân phố số A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1979; số Căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà A đường T, tổ dân phố số A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 29-10-2024, bản tự khai ngày 01-11-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Ngọc T có thời gian tìm hiểu trong khoảng 01 năm. Sau đó, hai bên tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 24-11-2006.
Sau khi kết hôn, chị và anh Trần Ngọc T chung sống tại số nhà A đường T, tổ dân phố số A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cuộc sống vợ chồng diễn ra hòa thuận cho đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đã nhiều lần xảy ra xô xát, đánh cãi chửi nhau. Đến năm 2021, vợ chồng sống ly thân, tuy ở cùng nhà nhưng mỗi người mỗi tầng và không ai quan tâm đến ai. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và mâu thuẫn không có khả năng khắc phục nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Trần Ngọc T được ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Trần Ngọc T có 02 con chung là Trần Ngọc Nguyễn N, sinh ngày 14-11-2007 (giới tính: Nam) và Trần Ngọc P, sinh ngày 13-7-2011 (giới tính: Nam). Hiện tại, cả hai con chung đang sinh sống cùng vợ chồng. Nếu vợ chồng ly hôn, chị Nguyễn Thị L đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các con chung là được sinh sống cùng anh Trần Ngọc T.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
Tại bản tự khai ngày 13-11-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là anh Trần Ngọc T trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị L có thời gian tìm hiểu trong khoảng 01 năm. Sau đó, hai bên tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 24-11-2006.
Sau khi kết hôn, anh và chị Nguyễn Thị L chung sống tại số nhà A đường T, tổ dân phố số A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cuộc sống vợ chồng diễn ra hòa thuận cho đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong quá trình vợ chồng xây nhà, hai bên gia đình đã tiến hành hòa giải cho vợ chồng nhưng mâu thuẫn vẫn không khắc phục được, chị L không muốn hàn gắn tình cảm. Chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh không đồng ý và muốn vợ chồng quay về đoàn tụ để nuôi dạy con cái.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Ngọc Nguyễn N, sinh ngày 14-11-2007 (giới tính: Nam) và Trần Ngọc P, sinh ngày 13-7-2011 (giới tính: Nam). Hiện tại, cả hai con chung đang sinh sống cùng vợ chồng. Nếu vợ chồng ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 19-11-2024 anh Trần Ngọc T xin được xét xử vắng mặt, trong đơn anh trình bày: Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án kèm theo đơn khởi kiện do nguyên đơn giao nộp, do công việc quá bận rộn, khó xin nghỉ được. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án cho anh vắng mặt trong phiên tòa xét xử và anh giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong bản tự khai, trong phiên hòa giải và công khai tài liệu chứng cứ.
Ngày 18-11-2024 chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị và anh T, xin được giữ nguyên quan điểm đã trình bày trong bản tự khai.
Tại biên bản ghi nguyện vọng ngày 01-11-2024 của cháu Trần Ngọc Nguyễn N, cháu N xác định hiện tại đang sống cùng bố mẹ tại địa chỉ số nhà A đường T, tổ dân phố số A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định, nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố là Trần Ngọc T.
Tại biên bản ghi nguyện vọng ngày 01-11-2024 của cháu Trần Ngọc P, cháu P xác định hiện tại đang sống cùng bố mẹ tại địa chỉ số nhà A đường T, tổ dân phố số A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định, nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố là Trần Ngọc T.
Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 12-11-2024 của Tòa án tại địa phương nơi cư trú của chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T xác nhận: Năm 2006 chị L và anh T có tổ chức đám cưới và sinh sống tại địa chỉ số nhà A đường T, tổ dân phố số A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định từ đó đến nay. Quá trình chung sống giữa chị L và anh T có phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thì địa phương không nắm được. Hiện nay, tuy hai vợ chồng vẫn ở cùng nhà nhưng mỗi người một tầng và không ai quan tâm đến ai.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.
- - Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T.
- - Về con chung: Giao cho anh Trần Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Ngọc Nguyễn N, sinh ngày 14-11-2007 và Trần Ngọc P, sinh ngày 13-7-2011.
- - Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Buộc chị Nguyễn Thị L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về tố tụng:
-
Về tranh chấp được giải quyết trong vụ án:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Trần Ngọc T; giải quyết về người trực tiếp nuôi con chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Bị đơn là anh Trần Ngọc T không có yêu cầu phản tố. Xét thấy, tranh chấp giữa chị L và anh T là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Trần Ngọc T có địa chỉ cư trú tại số nhà A đường T, tổ dân phố số A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
-
Về sự có mặt của các đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L và bị đơn là anh Trần Ngọc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
-
[2] Về nội dung tranh chấp:
-
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T có thời gian tìm hiểu trong khoảng 01 năm. Sau đó, hai bên tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 24-11-2006. Như vậy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T chung sống tại số nhà A đường T, tổ dân phố số A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cuộc sống vợ chồng diễn ra hòa thuận cho đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm cãi nhau, hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện nay, tuy hai vợ chồng vẫn ở cùng nhà nhưng mỗi người một tầng và không ai quan tâm đến ai. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh T và đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn, anh T không đồng ý ly hôn. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
-
Về con chung:
Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T có 02 con chung là cháu Trần Ngọc Nguyễn N, sinh ngày 14-11-2007 (giới tính: Nam) và Trần Ngọc P, sinh ngày 13-7-2011 (giới tính: Nam). Hiện cả 02 cháu N và cháu P đang sinh sống cùng chị L và anh T.
Xét thấy cháu N và cháu P có nguyện vọng xin được ở với anh T; chị L cũng có quan điểm đề nghị Tòa án giao 02 cháu cho anh Trần Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử giao cho anh Trần Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là cháu Trần Ngọc Nguyễn N, sinh ngày 14-11-2007 và Trần Ngọc P, sinh ngày 13-7-2011.
-
Về cấp dưỡng nuôi con chung:
Về cấp dưỡng nuôi con, chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
-
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:
Chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
-
-
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định như sau:
Chị Nguyễn Thị L là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.
-
Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T.
-
Về con chung: Giao cho anh Trần Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là cháu Trần Ngọc Nguyễn N, sinh ngày 14-11-2007 (giới tính nam) và Trần Ngọc P, sinh ngày 13-7-2011 (giới tính nam).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T vẫn có đầy đủ quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị L đã nộp tại biên lai số 0002403 ngày 29-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí.
-
Quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Ngọc T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Nam Định;
- - VKSND tỉnh Nam Định;
- - VKSND thành phố Nam Định;
- - Chi cục THADS TP. Nam Định;
- - UBND p. Quang Trung, tp. Nam Định, t. Nam Định;
- (ĐKKH số 29 ngày 24-11-2006)
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
7
Bản án số 455/2024/HNGĐ-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 455/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
