Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 455/2024/HS-ST

Ngày: 12-09-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đặng Vạn.
  2. Bà Võ Thị Gái.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 446/2024/HSST ngày 23/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 506/2024/QĐXXST-HS ngày 26/8/2024, đối với bị cáo:

Trần Bình Đ

Tên gọi khác: B; giới tính: N; sinh năm: 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 79/11 đường D, Khu phố B (Khu phố 5 cũ), phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trần Bình D và bà Nguyễn Thị Hoàng Y; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Năm 2010 bị cáo bị Công an phường P xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng (Đã chấp hành xong).
  • - Năm 2015 bị Tòa án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T) ra Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng (Đã chấp hành xong).
  • - Năm 2018 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng (Đã chấp hành xong).
  • - Ngày 27/12/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 08/08/2024.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/08/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Kim T đến ở nhờ tại phòng trọ của Trần Bình Đ tại phòng trọ số 3, nhà trọ không số, đường I, Khu phố A, phường P, thành phố T. Tại đây, T nảy sinh ý định đi lấy trộm tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài nên đã quan sát các dãy trọ xung quanh rồi đi mua 01 mỏ lết về cất dấu tại phòng trọ của Đ. Khoảng 02 giờ, ngày 16/8/2020, sau khi nhậu xong, Đ và Phan Thanh T1 (bạn của Đ) đi ngủ, T mang theo 01 mỏ lết đi đến dãy nhà trọ số A, đường số D, Khu phố A, phường P, Quận I (nay là thành phố T). Khi đến nơi, T quan sát thấy không có người nên dùng mỏ lết bẻ khoen cửa cổng của dãy trọ, rồi đi vào trong, lấy trộm 01 laptop hiệu ASUS Vivobook và 01 laptop hiệu ASUS X45C tại phòng trọ số 11 của chị Đỗ Thị Thanh T2 và anh Đặng Đình T3, lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1880, 01 điện thoại di động Samsung J8, 01 Ipad màu vàng, 01 balo bên trong có 01 laptop Acer kèm sạc laptop tại phòng trọ số 15 của anh Phan Thành L, lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Vario biển số 86B2-55237 của chị Mai Thị P ở phòng trọ số 5.

Sau khi lấy trộm được các tài sản nêu trên, T chạy xe và đưa các tài sản nêu trên về phòng trọ của Đ tại phòng trọ số 3, nhà trọ không số, đường I, khu phố A, phường P. Tại đây, T để xe ở khu vực cổng dãy trọ, rồi đi vào gõ cửa phòng của Đ, lúc này T1 đi ra mở cửa, T đưa cho T1 balo đựng các đồ vật lấy trộm được nói T1 cất vào phòng trọ và nói T1 lấy tua vít để phụ giúp T mở mặt nạ xe. Trúc biết balo trên là do T trộm cắp mà có và đem cất dấu balo vào gầm tủ rồi hỏi Đ chỗ để tua vít để lấy ra mở mặt nạ xe phụ giúp T. Đ khai thời điểm này đang ngủ thì nghe tiếng gõ cửa của T nên dậy thì thấy T1 đang cất 01 balo vào gầm tủ và chỉ cho T1 chỗ để tua vít, T1 đi ra phụ giúp T tháo mặt nạ xe mô tô để phá khóa nhưng không được, lúc này Đ đi ra thì thấy T và T1 đang dùng tua vít tháo mặt nạ xe vừa trộm được, Đ mở đèn điện thoại soi cho T và T1 để tháo mặt nạ xe nhưng không tháo được nên tắt đèn và kêu T1 đi vào nhà, sau đó T1 đi vào ngủ, T thấy vậy nên dùng áo mưa trùm xe lại rồi đi vào phòng ngủ. Đ biết các tài sản là xe mô tô và balo mà T1 vừa cất vào gầm tủ là tài sản mà T mà vừa trộm cắp mang về nhưng vẫn đồng ý cho để các tài sản này trong khu vực phòng trọ của mình.

Đến 06 giờ cùng ngày, T gọi điện cho Dương Hoài P1 để bán xe mô tô trộm cắp được, còn T1 mua lại 01 máy tính hiệu Asus màu đen do T trộm cắp mà có. P1 bán lại xe nêu trên cho Phạm Văn N1, N1 bán xe lại cho Trịnh Quang C.

Ngày 29/11/2022, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử Bùi Kim T về tội “Trộm cắp tài sản”, Dương Hoài P1, Phan Thanh T1, Phạm Văn N1, Trịnh Quang C cùng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Riêng bị cáo Đ bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra đã tách vụ án hình sự, ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, tạm đình chỉ điều tra đối với Đ.

Ngày 08/08/2023, Trần Bình Đ cùng đồng phạm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị bắt, đến ngày 18/8/2023, khởi tố bị can đối với Đ.

Vật chứng vụ án là 01 xe máy hiệu Dream biển số 54N1-9847 thu giữ của Đ và đã được xử lý ở vụ án xét xử Bùi Kim T cùng đồng phạm.

Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong trong vụ án trộm cắp tài sản do Bùi Kim T thực hiện.

Bản Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 11/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Đ về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Đ về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
  • Xử phạt bị cáo Đ: từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ 08/8/2024.

Bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có cơ hội trở về làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với hành vi của bị cáo mà Cáo trạng đã nêu. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 02 giờ, ngày 16/8/2020, bị cáo Đ biết được các tài sản của Bùi Kim T gửi nhờ là do Trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý chứa chấp cho T và T1 cất giấu các tài sản này trong nhà trọ của mình tại phòng trọ số 3, nhà trọ không số, đường I, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng trị giá tài sản mà Đ chứa chấp qua định giá là 25.453.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên.

[3] Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt:

Bị cáo bị xét xử ở khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, tiếp tay cho các hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Đ có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng, sau đó bị các Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc 02 lần, sau khi chấp hành xong không sửa đổi bản thân mà lại có hành vi phạm tội, năm 2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.

[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong trong vụ án trộm cắp tài sản do Bùi Kim T thực hiện.

[7] Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Luật Thi hành án dân sự.
  1. Về tội danh:
  2. Tuyên bố bị cáo Trần Bình Đ phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  3. Về hình phạt:
  4. Xử phạt bị cáo Trần Bình Đ: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/08/2024.

  5. Về án phí:
  6. Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Trung Thực

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 455/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 455/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Bình Đ- phạm tội Chứa chấp tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger