Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 455/2025/DS-ST
Ngày: 30-9-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Lê Thị Kim Ngàn;
  2. Bà Hồ Bích Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Trà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Sương – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong các ngày 08, 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 335/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 372/2025/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S;

Địa chỉ: Số B N, phường X (trước đây là phường V, Quận C), Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M, sinh năm: 1970;

Địa chỉ: Số B N, phường X (trước đây là phường V, Quận C), Thành phố Hồ Chí Minh – Giấy ủy quyền số: 7585/2024/UQ-TGĐ ngày 07/11/2024. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Anh T, sinh năm: 1990;

Địa chỉ: Số C V, phường C (trước đây là phường C, Quận A), Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ tạm trú: Nhà không số, hẻm E H, phương T (trước đây là phường T, Quận G), Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong Đơn khởi kiện ngày 06/12/2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:

Ngày 17/6/2021, bị đơn ông Nguyễn Văn Anh T đã ký kết với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Hợp đồng bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ và Bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ vào thông tin về thu nhập do bị đơn cung cấp, Ngân hàng đã xét duyệt và cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ, bị đơn đã phát sinh các giao dịch với tổng số tiền 13.500.000 đồng. Trong suốt quá trình sử dụng thẻ, bị đơn đã trả cho nguyên đơn tổng số tiền 7.871.000 đồng. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn, ngày 16/3/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ khoản dư nợ còn lại sang nợ quá hạn.

Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn trả nợ đến hạn, nhưng bị đơn vẫn không thực hiện, vi phạm các điều khoản đã được quy định trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký. Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 13/5/2025 là 35.517.703 đồng (bao gồm: Nợ gốc 16.973.243 đồng; lãi quá hạn 18.544.460 đồng), đồng thời, bị đơn tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 14/5/2025 cho đến khi trả hết các khoản nợ theo lãi suất quy định trong hợp đồng.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc, nhưng trong bản tự khai ngày 30/9/2025, nguyên đơn xác định tổng số tiền bị đơn phải thanh toán tính đến ngày 30/9/2025 là 38.804.063 đồng (bao gồm: Nợ gốc 16.973.243 đồng; lãi quá hạn 21.830.820 đồng), và bị đơn tiếp tục thanh toán phần lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi thanh toán dứt điểm toàn bộ khoản nợ, theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng đã ký kết.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, dù đã được triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu trong hồ sơ, xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Bị đơn cư trú tại phường C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Người tham gia tố tụng đã được triệu tập, thông báo hợp lệ và thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Bị đơn đã ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng và Bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của nguyên đơn. Hợp đồng được ký ngày 17/6/2021, với hạn mức tín dụng 15.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã sử dụng thẻ và phát sinh giao dịch, nhưng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán khoản nợ gốc, lãi quá hạn và lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

[1.1] Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn, xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại phường C (trước là phường C, Quận A), Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025), vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Xét, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định.

[1.3] Xét, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn theo quy định pháp luật.

[1.4] Xét, toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn giao nộp kèm theo đơn khởi kiện và các chứng cứ thu thập trong quá trình giải quyết vụ án đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, những tài liệu, chứng cứ này được xem là có giá trị chứng minh quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự trong vụ án.

[2]. Về pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Căn cứ các Điều 4, 5, 186 và 188 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), nguyên đơn có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong vụ án này, nguyên đơn đã thực hiện quyền khởi kiện đúng quy định pháp luật. Do đó, yêu cầu khởi kiện là có căn cứ để được xem xét, giải quyết.

[2.2] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn cung cấp, có đủ cơ sở xác định: Ngày 17/6/2021, bị đơn đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ, kèm theo Bản điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng do nguyên đơn phát hành. Theo đó, nguyên đơn đã cấp thẻ tín dụng cho bị đơn với hạn mức 15.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân. Hợp đồng đã được giao kết hợp pháp, các quyền và nghĩa vụ giữa các bên đã phát sinh.

[2.3] Sau khi được cấp thẻ, bị đơn đã phát sinh giao dịch với tổng giá trị 13.500.000 đồng, nhưng chỉ thanh toán được 7.871.000 đồng. Phần còn lại bị đơn không thanh toán dù đã được nguyên đơn nhắc nhở nhiều lần. Do đó, nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ khoản nợ còn lại thành nợ quá hạn. Tính đến ngày 30/9/2025, tổng dư nợ bị đơn còn phải thanh toán là 38.804.063 đồng (bao gồm: Nợ gốc 16.973.243 đồng; lãi quá hạn 21.830.820 đồng).

[2.4] Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Việc nguyên đơn chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển nợ sang nợ quá hạn là phù hợp với mục 18 và 19 của Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng bị đơn đã ký.

[2.5] Theo các Điều 116, 117 và 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng được xác lập giữa các bên là giao dịch dân sự hợp pháp vì đáp ứng đầy đủ điều kiện về chủ thể, nội dung và hình thức, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực.

[2.6] Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 17/6/2021 giữa bị đơn và nguyên đơn là hợp đồng hợp pháp, nên nghĩa vụ của bị đơn là thanh toán khoản nợ vay theo quy định tại khoản 1 điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N. Do đó, yêu cầu buộc bị đơn thanh toán nợ gốc là có căn cứ pháp lý.

[2.7] Về khoản lãi: Nguyên đơn tính lãi quá hạn theo quy định tại mục 23 và mục 24 của Bản điều khoản. Cụ thể, lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 31,20%/năm; lãi suất nợ quá hạn được xác định bằng 150% lãi suất trong hạn đang được công bố và áp dụng. Theo đó, lãi suất trong hạn là 2,77%/tháng, nhân với 150% tương ứng với 4,155%/tháng lãi quá hạn. Cách tính lãi này phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và đúng quy định pháp luật. Do đó, số tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử là 21.830.820 đồng có cơ sở để chấp nhận.

[2.8] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn đến làm việc và tham gia tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến. Việc bị đơn không tham gia tố tụng được xem là từ bỏ quyền chứng minh, và phải chịu hậu quả bất lợi theo quy định pháp luật. Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Tòa án chỉ xem xét trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận.

[2.9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với diễn biến và chứng cứ của vụ án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

[4] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 4, Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 186, Điều 188, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Căn cứ vào các Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 280 và khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Buộc ông Nguyễn Văn Anh T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khoản nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 17/6/2021, tạm tính đến ngày 30/9/2025 là 38.804.063 đồng (bao gồm: Nợ gốc 16.973.243 đồng; lãi quá hạn 21.830.820 đồng).

Kể từ ngày 01/10/2025, ông Nguyễn Văn Anh T còn phải tiếp tục thanh toán khoản lãi quá hạn phát sinh từ số tiền nợ gốc chưa trả, theo mức lãi suất quá hạn mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng có quy định về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S công bố, thì mức lãi suất áp dụng cho phần lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2025 cũng sẽ được điều chỉnh tương ứng theo sự điều chỉnh đó.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Anh T phải nộp 1.940.203 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 775.854 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0079539 ngày 20/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, ông Nguyễn Văn Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - VKSND khu vực 1;
  • - Phòng THADS khu vực 1;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ. (12 bản)

TAND KHU VỰC 1

TA0300925.TL.QDBA 6546

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Ngọc Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 455/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 455/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán dư nợ tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger