Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 455/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 11 tháng 7 năm 2024

V/v: Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền

Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 151/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXX-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 36/2024/QĐHPT-HNGĐST ngày 01/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn : Chị Phạm Thị B, sinh năm 1979.

Địa chỉ : Số E, ngõ A, tổ dân phố Y, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt

Bị đơn: Anh Bạch Quang H, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Số E, ngõ A, tổ dân phố Y, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Phạm Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bạch Quang H chung sống với nhau từ năm 2003 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 12 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân phường P,quận H, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại: Số E, ngõ A, tổ dân phố Y, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống anh H gia trưởng, không có sự tôn trọng chị, mỗi khi vợ chồng có công việc gì cần bàn bạc anh H không đồng ý thì lại đánh đập chị. Mâu thuẫn của chị và anh H đã được gia đình hai bên, cũng như tổ hoà giải của tổ dân phố hoà giải nhưng không cải thiện được tình cảm của vợ chồng. Do mâu thuẫn nên chị và anh H đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

-Về con chung: Chị B xác nhận có 02 con chung là Bạch Quốc H1 (nam), sinh ngày 12/6/2004 và Bạch Khánh L ( nữ), sinh ngày 30/3/2011. Ly hôn chị và anh H thống nhất thỏa thuận để chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bạch Khánh L và anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bạch Quốc H1. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

-Về tài sản chung :( động sản bất động sản): Chị B xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về công nợ chung: Chị B xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết

-Về án phí: Chị B đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

*Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án anh Bạch Quang H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Bạch Quang H xác nhận thời gian kết hôn như chị B trình bày là đúng. Sau khi kết hôn hai vợ chồng xin ra ngoài ở riêng ở tại khu giãn dân phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Đến năm 2022 thì vợ chồng về sống tại: Số E, ngõ A, tổ dân phố Y, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chống đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do có lần anh đi làm đêm về kiểm tra nhà không thấy chị B đâu mà chỉ có hai con đang ở nhà nội. Do nghi ngờ chị B nên anh có đánh chị B, nhưng đó là chuyện quá khứ. Mâu thuẫn giữa anh và chị B căng thẳng nhất là vào ngày 26 tết năm 2023 khi anh mang lễ tết đến nhà mẹ vợ thì vợ chồng đã xẩy ra cãi nhau, nhưng sau đó anh đã xin lỗi mẹ vợ vì phải chứng kiến việc đó. Ngày hôm sau chị B về xin phép mẹ anh và anh ra ngoài ở và anh đã đồng ý. Mâu thuẫn giữa anh và chị B đã được ban hòa giải của hội phụ nữ đến hòa giải cho vợ chồng anh nhưng không thành và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị B xin ly hôn anh thì quan điểm của anh là vì các con nên anh mong muốn chị B quay lại để các con có cả bố và có mẹ. Trường hợp chị B vẫn cương quyết xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

-Về con chung: Anh H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Bạch Quốc H1 (nam), sinh ngày 12/6/2004 và Bạch Khánh L ( nữ), sinh ngày 30/3/2011. Quan điểm của anh vẫn là mong muốn chị B quay về với gia đình để nuôi dạy con cái. T hợp nếu phải ly hôn thì anh và chị B thống nhất thỏa thuận để chị B là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bạch Khánh L và anh là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bạch Quốc H1 . Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

-Về tài sản chung( động sản, bất động sản): Anh H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về công nợ chung: Anh H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí ly hôn : Anh Hợp đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Phạm Thị B vẫn giữ nguyên các yêu cầu nêu trên và không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Bị đơn anh Bạch Quang H đã được Toà án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên toà.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án ngày hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Sau khi phát biểu đánh giá các tình tiết của vụ án. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị B đối với anh Bạch Quang H. Chị Phạm Thị B được ly hôn anh Bạch Quang H.

- Về con chung : Chị B, anh H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Bạch Quốc H1 (nam), sinh ngày 12/6/2004 và Bạch Khánh L ( nữ), sinh ngày 30/3/2011. Ghi nhận sự thống nhất thoả thuận của chị B, anh H về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn như sau: Giao cho chị B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Bạch Khánh L; Giao cho anh H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Bạch Quốc H1. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

- Về tài sản chung: Chị B, anh H xác nhận không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về nợ chung: Chị B, anh H xác nhận không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Chị B phải chịu 300.000 đồng án phí theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, bị đơn là anh Bạch Quang H . Anh H hiện đang cư trú và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số E, ngõ A, tổ dân phố Y, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2].Về nội dung:

[2.1].Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị B và anh Bạch Quang H chung sống với nhau từ năm 2003 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường P, quận H, thành phố Hà Nội chứng nhận kết hôn ngày 08/12/2003. Hôn nhân của chị B và anh H là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị B Hội đồng xét xử thấy: Theo quy định của Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia xẻ, thực hiện các công việc gia đình, có nghĩa vụ chung sống với nhau...”. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của chị B, anh H thể hiện: Trong cuộc sống hôn nhân của chị B, anh H đã xẩy ra mâu thuẫn từ lâu, vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự tin tưởng nhau. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị B, anh H đã sống ly thân nhau mỗi người một nơi từ đầu năm 2024 cho đến nay. Mặt khác qua xác minh tại tổ dân phố nơi chị B và anh H cư trú cũng đã xác nhận vợ chồng chị B, anh H có xẩy ra mâu thuẫn đánh cãi chửi nhau, tổ hòa giải có đến vài lần hòa giải cho anh chị nhưng không thành. Bản thân anh H cũng xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn tuy nhiên vì các con nên anh không đồng ý ly hôn, từ đó thấy rằng anh H cũng tự nhận thức được hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy lý do anh H không đồng ý ly hôn là không phù hợp với Điều 19, Điều 56 và điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị B đối với anh H là có căn cứ chấp nhận.

[2.2]. Về con chung: Chị B, anh H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Bạch Quốc H1 (nam), sinh ngày 12/6/2004 và Bạch Khánh L (nữ), sinh ngày 30/3/2011. Ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận của chị B, anh H về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn như sau: Giao cho chị B là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bạch Khánh L; Giao cho anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bạch Quốc H1 kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

[2.3]. Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị B, anh H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Về nợ chung: Chị B, anh H xác nhận nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Luật số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014.

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; 147; khoản 2 Điều 227; các Điều 271; 273; 278; 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị B đối với anh Bạch Quang H.

    Chị Phạm Thị B được ly hôn anh Bạch Quang H.

  2. Về con chung: Xác nhận chị Phạm Thị B và anh Bạch Quang H có 02 con chung là Bạch Quốc H1 (nam), sinh ngày 12/6/2004 và Bạch Khánh L ( nữ), sinh ngày 30/3/2011. Giao chị B là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bạch Khánh L, giao anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bạch Quốc H1 kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác thay thế . Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

    Chị Phạm Thị B và anh Bạch Quang H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản):

    Chị B, anh H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  4. Về công nợ: Chị B, anh H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí:

    Chị B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị B đã nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0015023 ngày 18/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị B, vắng mặt anh H. Chị B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H được quyền kháng cáo bản án kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - THA quận Hà Đông;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 455/2024/HNGĐ - ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 455/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị B ly hôn Bạch Quang H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger