Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 455/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Mai Khanh,

bà Nguyễn Thị Quế Anh.

- Thư ký phiên tòa: bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Bằng Giang, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 340/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/7/2024 về “tranh chấp hôn nhân gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 321/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 432/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 09/12/1994; địa chỉ: xóm Q, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

- Bị đơn: anh Nguyễn Đình T, sinh ngày 05/10/1990; địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm A (nay là xóm Q), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; hiện sống tại Hàn Quốc; vắng mặt.


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị H trình bày: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình T kết hôn hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 01/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc; sau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Năm 2017, anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Thời gian đầu, vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, nhưng dần dần ít liên lạc với nhau, không quan tâm nhau và càng ngày mâu thuẫn càng trầm trọng. Từ đầu năm 2023 đến nay, chị và anh T không liên lạc với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị H yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Đình T.

Về con chung: chị H, anh T có 01 con chung là Nguyễn Tuệ M, sinh ngày 23/5/2017; hiện cháu đang sống cùng chị H. Ly hôn, chị đề nghị Toà án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; không yêu cầu anh Trung cấp D nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Đình T: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Nguyễn Đình T vắng mặt. Chị Nguyễn Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh T cư trú, chị chỉ biết anh đang làm việc ở Hàn Quốc. Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án tại nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, đồng thời gửi Thông báo thụ lý vụ án cho anh T thông qua bà Cao Thị B (là mẹ đẻ của anh T), tiến hành xác minh, lấy lời khai, gửi văn bản yêu cầu bà Cao Thị B cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn. Tại biên bản xác minh ngày 06/9/2024, bà Cao Thị B khai rằng: anh H1 hiện đang đi tàu biển ở Hàn Quốc; lâu lâu anh T mới liên lạc về với bà bằng điện thoại. Dịp 02/9/2024, anh T có gọi điện về cho bà. Anh T đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị H với anh. Anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đến nay, Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào của anh T thể hiện ý kiến liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.

Cháu Nguyễn Tuệ M cho biết cháu đang học lớp 2A, trường tiểu học D2. Hiện cháu đang ở cùng với mẹ H. Nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng tại phiên tòa.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Đình T đã được mẹ đẻ của mình cung cấp các thông tin về việc chị Nguyễn Thị H xin ly hôn, nhưng vẫn cố tình giấu địa chỉ, không chấp hành các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Vì vậy việc xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo khoản 1 Điều 228, vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, là đúng quy định.

Về nội dung: Xét thấy chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình T có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào năm 2015, không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nhân là hợp pháp. Vợ chồng không liên lạc với nhau từ đầu năm 2023 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đình T. Đề nghị giao con chung là Nguyễn Tuệ M cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị H không yêu cầu anh Trung cấp D nuôi con nên miễn xét; về tài sản chung, nợ chung: miễn xét.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết:

Vụ án về “tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa nguyên đơn - chị Nguyễn Thị H và bị đơn - anh Nguyễn Đình T; chị H, anh T đều có hộ khẩu thường trú tại xóm Q (trước đây là xóm A, sau đổi tên thành xóm A), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; bị đơn anh Nguyễn Đình T đã xuất cảnh qua cửa khẩu sân bay quốc tế C lần cuối là ngày 11/02/2020 đến nay chưa nhập cảnh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Đình T vắng mặt, Tòa án đã tiến hành xác minh lấy lời khai của bà Cao Thị B (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Đình T), địa chỉ: xóm Q, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; yêu cầu bà cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho T biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết việc ly hôn giữa chị H và anh T. Tuy nhiên, bà Ba K cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh T do anh T không cho bà biết; đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh Trung liên Q đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng của anh T trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo khoản 1 Điều 228, vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 01/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên hợp pháp. Năm 2017, anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Dần dần, vợ chồng ít liên lạc với nhau, không quan tâm nhau và càng ngày mâu thuẫn càng trầm trọng. Từ đầu năm 2023 đến nay, chị và anh T không còn liên lạc với nhau nữa. Điều này thể hiện tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình T đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đình T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3.2]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình T có 01 con chung là Nguyễn Tuệ M, sinh ngày 23/5/2017; hiện cháu đang sống cùng chị H. Ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không yêu cầu anh Trung cấp D nuôi con chung.

Xét thấy: hiện nay, chị H đang sống tại Việt Nam, cháu Tuệ M đang còn nhỏ nên cần thiết phải có sự chăm sóc của người mẹ. Anh T đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài, không rõ địa chỉ. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con cần giao con chung Nguyễn Tuệ M cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình T không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; Điều 97, Điều 102, khoản 1 Điều 207, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đình T.
  2. Về con chung: giao con chung là Nguyễn Tuệ M, sinh ngày 23/5/2017 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án không giải quyết.

Anh Nguyễn Đình T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp (chị Nguyễn Thị Cẩm D1 nộp thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013033 ngày 16 tháng 7 năm 2024.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản sao bản án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản sao bản án./.


Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diễn Thịnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Hồ Ngọc Tiếp

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 455/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 455/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đình T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger