|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 455/2024/DS-PT Ngày: 28-8-2024 V/v "Tranh chấp hụi" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lương
-
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Trang
Ông Nguyễn Thế Hồng - - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Phấn – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 130/2024/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2754/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 2796/2024/QĐ-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1988; (Có mặt)
- Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm: 1971; (Bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Nơi cư trú: 279/55 ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn Đ, sinh năm: 1966;
- Nơi cư trú: 297/55 ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn Đ là bà Nguyễn Thị Huyền T. (Theo văn bản ủy quyền ngày 25 tháng 3 năm 2024) (Bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm
Tại đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:
Bà Nguyễn Thị Huyền T là chủ hụi, còn bà là hụi viên. Trong thời gian bà T tổ chức chơi hụi, bà có tham gia chơi các dây hụi như sau:
- - Dây hụi thứ nhất: Hụi khui ngày 05/01/2022 (âm lịch), mãn hụi ngày 05/01/2024 âm lịch, hụi mệnh giá 5.000.000đồng/tháng, gồm 26 phần, bà tham gia 01 phần hụi. Bà đã đóng hụi sống được 25 tháng (hốt chót) thì bà T úp hụi không giao hụi. Số tiền thực tế bà đã đóng là 83.020.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Nếu tính luôn tiền hụi lời trong dây hụi này là: 125.000.000 đồng.
- - Dây hụi thứ hai: Hụi khui ngày 15/04/2023 (âm lịch), mãn hụi ngày 15/9/2025 âm lịch, hụi mệnh giá 5.000.000đồng/tháng, gồm 30 phần, bà tham gia 01 phần. Bà đã đóng hụi sống được 09 tháng thì bà T úp hụi không thu hụi nữa (bề hụi). Số tiền thực tế bà đã đóng là 29.540.000 đồng. Nếu tính luôn tiền hụi lời trong dây hụi này là 45.000.000đồng.
- - Dây hụi thứ ba: Hụi khui ngày 25/07/2023 (âm lịch), mãn hụi ngày 25/8/2025 âm lịch, hụi mệnh giá 1.000.000đồng/tháng, gồm 26 phần, bà tham gia 02 phần hụi. Bà đã đóng hụi sống được 06 tháng thì bà T không thu hụi nữa (bể hụi). Số tiền thực tế bà đã đóng cho bà T là 8.440.000 đồng. Nếu tính luôn tiền hụi lời trong dây hụi này là 12.000.000 đồng.
Tổng số tiền hụi thực tế bà đã đóng của 3 dây hụi là 121.000.000 đồng, còn nếu tính luôn số tiền lãi là 182.000.000đồng. Mặc dù bà đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà T vẫn không chịu trả.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T và chồng là ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi của dây hụi thứ nhất là 125.000.000 đồng (bao gồm cả tiền gốc và lãi), còn dây hụi thứ hai, thứ ba thì bà chỉ yêu cầu trả số tiền gốc là 29.540.000 đồng và 8.440.000 đồng. Tổng cộng là 162.980.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi.
Tại văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T trình bày:
Bà thừa nhận có làm chủ hụi, còn bà D là hụi viên có tham gia các dây hụi do bà làm chủ như sau:
- Dây hụi thứ nhất: Hụi khui ngày 05/01/2022 (âm lịch), mãn hụi ngày 05/01/2024 âm lịch, hụi mệnh giá 5.000.000đồng/tháng, gồm 26 phần, bà D tham gia 01 phần hụi. Bà D đóng hụi sống được 25 tháng, dây hụi này đã mãn, bà D hốt sau cùng nhưng bà chưa giao hụi. Số tiền thực tế bà D đã đóng là 83.020.000 đồng, nếu tính hụi lời đến mãn bà D hốt sẽ được số tiền 125.000.000đồng.
- Dây hụi thứ hai: Hụi khui ngày 15/04/2023 (âm lịch), mãn hụi ngày 15/9/2025 âm lịch, hụi mệnh giá 5.000.000đồng/tháng. Hụi gồm 30 phần, bà D tham gia 01 phần hụi. Bà D đóng hụi sống được 09 tháng thì bà úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi). Số tiền thực tế bà D đã đóng cho bà là 29.540.000 đồng (của 9 tháng), nếu tính luôn tiền lãi (lời) là 45.000.000đồng (lời của 9 tháng đã đóng).
- Dây hụi thứ ba: Hụi khui ngày 25/07/2023 (âm lịch), mãn hụi ngày 25/8/2025 âm lịch, hụi mệnh giá 1.000.000đồng/tháng, gồm 26 phần, bà D tham gia 02 phần hụi. Bà D đóng hụi sống được 06 tháng thì bà úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi). Số tiền thực tế bà D đã đóng cho bà là 8.440.000 đồng, nếu tính luôn tiền lãi (lời) là 12.000.000đồng (hụi lời của 6 tháng).
Tổng số tiền hụi thực tế bà D đã đóng cho bà của 3 dây hụi là 121.000.000 đồng, nếu tính luôn tiền lãi thì bà D được hưởng là 182.000.000 đồng.
Việc bà tổ chức chơi hụi là để được hưởng tiền hoa hồng khi có hụi viên hốt hụi, mục đích chính nhằm tăng thêm thu nhập, lo cho kinh tế, cuộc sống của gia đình. Quá trình làm chủ hụi thì bà cũng bị nhiều hụi viên hốt hụi rồi không đóng, hiện bà cũng đang thiếu nợ rất nhiều và hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bà xin được trả cho bà Duyên số tiền thực tế mà bà D đã đóng là 121.000.000 đồng và xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng đến 700.000 đồng, bà không đồng ý trả lãi theo yêu cầu của bà D.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 130/2024/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách quyết định:
Căn cứ các Điều 471, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 15, 18, 21, 22, 23, 25 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 02 năm 2019 về họ, hụi, bêu, phường;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D đối với bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ về việc “Tranh chấp hụi”.
- Buộc bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Duyên s tiền hụi là 157.724.000đ (Một trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 17/6/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 130/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách theo hướng bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Huyền T có đơn xin xét xử vắng mặt và không có ý kiến về nội dung kháng cáo. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị D không đồng ý kháng cáo của bà T và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Các bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Kháng cáo của phía bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 130/2024/DSST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Huyền T. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
[1] Bà T thừa nhận bà D có tham gia chơi hụi do bà T làm chủ hụi, sự thừa nhận của bà T là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.1] Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa cấp sơ thẩm bà D thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Bà D chỉ yêu cầu bà T và ông Đ liên đới trả số tiền hụi còn nợ bà là 162.980.000 đồng (bao gồm: giữ nguyên số tiền hụi gốc lẫn lãi ở dây hụi thứ nhất là 125.000.000 đồng, tiền hụi gốc của dây hụi thứ nhất và dây hụi thứ hai là 29.540.000 đồng và 8.440.000 đồng) chứ không phải 182.000.000.000 đồng (bao gồm cả tiền gốc và lãi) như đơn khởi kiện ban đầu. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận là phù hợp.
[1.2] Xét thấy, việc bà T làm chủ hụi, bà D là hụi viên và có tham gia chơi 03 dây hụi do bà T làm chủ hụi nêu trên là có thật, được cả hai thừa nhận. Bị đơn bà T cũng thừa nhận tổng số tiền hụi (tiền gốc) thực tế bà D đã đóng của 3 dây hụi là 121.000.000 đồng, nếu tính luôn cả tiền lãi thì bà D được hưởng khi hốt hụi là 182.000.000 đồng; do bị vỡ hụi nên đến nay bà T chưa trả cho bà Duyên số tiền hụi này. Như vậy đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà T còn nợ bà Duyên số tiền hụi gốc là 121.000.000 đồng. Việc bà T không giao hụi trả cho bà D là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi (họ) theo quy định tại Điều 18 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 02 năm 2019 về họ, hụi, bêu, phường nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà T phải có nghĩa vụ trả cho bà Duyên số tiền hụi gốc là 121.000.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận.
[1.3] Về tiền lãi: Đối với dây hụi thứ nhất khui ngày 05/01/2022 (âm lịch), mệnh giá 5.000.000đồng/tháng, cả bà D và bà T đều thống nhất số tiền hụi thực tế bà D đã đóng là 83.020.000 đồng, nếu tính cả gốc và lãi là 125.000.000 đồng (tiền lãi là 41.980.000 đồng). Bà D yêu cầu bà T phải trả cho bà cả tiền gốc và lãi là 125.000.000đồng, còn bà T chỉ đồng ý trả gốc, không đồng ý trả lãi. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015, thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm (tương đương 1,66%/tháng), trường hợp lãi suất vượt quá mức lãi suất giới hạn được quy định thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Do đó, số tiền lãi của dây hụi này nếu tính theo quy định là 34.453.300 đồng, trong khi số tiền lãi bà D yêu cầu là 41.980.000 đồng là vượt quá mức lãi suất giới hạn (số tiền vượt là 7.526.700 đồng). Vì vậy, yêu cầu về tiền lãi của bà D trong dây hụi này được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận một phần với số tiền là 34.453.300 đồng, tổng số gốc và lãi của dây hụi này bà T phải có nghĩa vụ trả bà D là 117.473.300 đồng. Tuy nhiên, theo thỏa thuận khi tham gia chơi hụi thì chủ hụi được hưởng hoa hồng khi hụi viên hốt hụi là 2.500.000 đồng,
sau khi đã khấu trừ số tiền hoa hồng này cho bà T thì số tiền hụi bà T phải giao cho bà D là 114.973.300 đồng. Ngoài ra, ngày mãn hụi là ngày 05/01/2024 nhưng bà T không giao tiền hụi cho bà D là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi (họ) nên phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015, với số tiền lãi là 4.771.000 đồng (114.973.300 đồng x 0,83%/năm x 05 tháng).
Đối với dây hụi thứ hai, thứ ba thì bà D chỉ yêu cầu trả số tiền gốc là 29.540.000 đồng và 8.440.000 đồng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bà D nên được xem xét chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền hụi của ba dây hụi bà T phải có nghĩ vụ trả cho bà D là 157.724.000 đồng (đã làm tròn).
[1.4] Về trách nhiệm liên đới của ông Phan Văn Đ (chồng bà trang): Xét thấy, việc bà T làm chủ hụi là để được hưởng tiền hoa hồng khi có hụi viên hốt hụi, mục đích nhằm tăng thêm thu nhập, lo cho kinh tế, cuộc sống của gia đình, đồng thời sự việc này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa bà T với ông Đ. Do đó, căn cứ Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, buộc ông Đ có trách nhiệm liên đới cùng với bà T trả cho bà Duyên số tiền 157.724.000 đồng này.
[1.5] Đối với yêu cầu của bà T về việc xin được trả dần hàng tháng, mỗi tháng trả 500.000 đồng đến 700.000 đồng cho đến khi trả hoàn tất nợ. Xét thấy, yêu cầu xin được trả dần của bị đơn không được nguyên đơn đồng ý, đồng thời việc trả nợ như thế nào là thuộc về giai đoạn thi hành án do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của bà T là phù hợp.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T, nhận thấy:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm bà T có đơn xin xét xử vắng mặt và không có thay đổi nội dung kháng cáo “đề nghị cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn” tuy nhiên bà T không có cung cấp chứng cứ hay trình bày để bảo vệ nội dung kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào những lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm. Cụ thể: bà T thừa nhận số chân hụi bà D tham gia, số phần hụi và thời gian đóng hụi phù hợp với lời trình bày của bà D. Tuy nhiên, các dây hụi trên là hụi có lãi. Do đó, thành viên tham gia hụi đã hốt hụi thì có nghĩa vụ trả lãi cho các thành viên chưa hốt hụi. Còn bà T là chủ hụi đứng ra tổ chức, quản lý dây hụi, có nghĩa vụ thu các phần hụi và giao các phần hụi đó cho thành viên được lĩnh hụi trong mỗi kỳ mở hụi cho tới khi kết thúc dây hụi. Mặc dù hiện nay bà T không còn tổ chức hụi tiếp tục nhưng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của chủ hụi như nhận định nêu trên. bà D tham gia đóng hụi nhưng chưa hốt hụi nên bà T phải có nghĩa vụ gom hụi của các thành viên đã hốt hụi để giao hụi lại cho bà D với số tiền hụi mà bà D yêu cầu của mỗi dây hụi nêu trên là phù hợp. Việc bà T kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm số 130/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 theo hướng bà chỉ trả lại số tiền hụi gốc đối với
dây hụi khui ngày khui ngày 05/01/2022 (âm lịch), hụi 5.000.000đồng/tháng là 83.020.000 đồng mà bà D đã đóng là không có cơ sở để chấp nhận và cũng không được sự đồng ý của bà D.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chồng bà T là ông Phan Văn Đ đồng ý liên đới cùng bà T trả nợ cho bà D. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà D, buộc bà T và ông Đ phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Duyên số tiền nợ hụi 157.724.000 (Một trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi bốn nghìn đồng) là có căn cứ để chấp nhận.
[2.2] Bà T kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm nên kháng cáo của bà T là không có căn cứ để chấp nhận.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 130/2024/DSST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 130/2024/DSST ngày 04/6/2024 Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ các Điều 471, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 15, 18, 21, 22, 23, 25 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 02 năm 2019 về họ, hụi, bêu, phường;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D đối với bà Nguyễn Thị Huyền T về việc “Tranh chấp hụi”.
- Buộc bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Duyên s tiền hụi là 157.724.000đ (Một trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới chịu là 7.886.200₫ (Bảy triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm đồng).
- Bà Nguyễn Thị D phải chịu là 300.00₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.550.000₫ (Bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001428 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Duyên s tiền tạm ứng án phí còn lại là 4.250.000₫ (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Về án phí phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000998 ngày 03/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Bà T đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Lương |
Bản án số 455/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hụi
- Số bản án: 455/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
