Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4540/2024/DS-ST

Ngày: 23/9/2024

V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng.
  2. Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh N – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 2186/2023/TLST– DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6326/2024/QĐXX-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 7403/2024/QĐH-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1;
  2. Trụ sở: 89 L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội;

    Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Công ty cổ phần M1;

    Trụ sở: Tầng A Tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội;

    Người đại diện theo ủy quyền: Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thảo N1, ông Đặng Quốc Đ, ông Đặng Quang V theo giấy ủy quyền số 538/2024/UQ-MARS (VPB) ngày 01/8/2024

    Địa chỉ: Lầu B, số D đường T, phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh;

    (Ông Đ, bà N1 có mặt)

  3. Bị đơn:
  4. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1983;

    Bà Bùi Thị N2, sinh năm: 1991;

    Cùng địa chỉ: G28, Khu S, đường D, tổ G, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Ông Q, bà N2 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/7/2023 và lời trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng:

Ngày 22/06/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Văn Q, bà Bùi Thị N2 có ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số: LN2206166009246 với nội dung như sau: Ngân hàng đồng ý cho ông Nguyễn Văn Q, bà Bùi Thị N2 vay số tiền vay: 8.300.000.000 đồng (bằng chữ: tám tỷ ba trăm triệu đồng); Mục đích vay: Thanh toán tiền mua 02 bất động sản tại thửa đất số 516, tờ bản đồ số: 14, Địa chỉ: phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và thửa đất số 517, tờ bản đồ số: 14, Địa chỉ: B Khu phố A, phường A, Quận A; Thành phố Hồ Chí Minh; Thời gian vay: 300 tháng; Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 10.3%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Dư nợ tạm tính đến ngày 1/8/2024:

  • - Nợ gốc : 8.300.000.000 đồng
  • - Nợ lãi : 2.467.241.276 đồng
  • Tổng cộng: 10.767.241.276 đồng.

Ngày 14/06/2022, ông Nguyễn Văn Q và Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 có ký Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ; phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ1: 29693. Ngân hàng đã đồng ý cấp cho ông Quảng thẻ tín dụng hạn mức: 300.000.000 đồng, Lãi suất: 35.88%.

Dư nợ tạm tính đến ngày 1/8/2024:

  • - Nợ gốc : 272.698.262 đồng
  • - Nợ lãi : 134.313.766 đồng
  • Tổng cộng: 407.012.028 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 517, tờ bản đồ số: 14, tọa lạc tại địa chỉ: B, Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc quyền sở hữu của Ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 622423, Số vào sổ cấp GCN: CH00847 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 21/12/2010 và Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số: 516, tờ bản đồ số: 14, tọa lạc tại địa chỉ: phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 622429, Số vào sổ cấp GCN: CH00873 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 31/12/2010. Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký ngày 6/7/2022, số công chứng: 006909; quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và được đăng ký thế chấp ngày 6/7/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn, Dư nợ tạm tính đến ngày 01/8/2024 của ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 là 11.174.253.304 đồng, trong đó nợ gốc: 8.572.698.262 đồng, nợ lãi: 2.601.555.042 đồng.

Theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS ngày 29 tháng 12 năm 2023, Hợp đồng chuyển nhượng số 02/2023/VPB-MARS ngày 29 tháng 12 năm 2023 cùng các Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V1 (Ngân hàng) với Công ty TNHH Một thành viên M1 (M) thì Ngân hàng TMCP V1 đồng ý bán và M đồng ý mua (các) khoản nợ của khách hàng vay là ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 đã ký kết với Ngân hàng TMCP V1. Theo đó, Ngân hàng TMCP V1 đã chuyển toàn bộ quyền sở hữu, quyền lợi, lợi ích của Ngân hàng TMCP V1 đối với các khoản vay này cho M, M được kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP V1 tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho đến khi giải quyết xong toàn bộ khoản nợ. Ngày 16/4/2024, Công ty TNHH MTV M1 đã được chuyển đổi thành Công ty Cổ phần M1, với mã số doanh nghiệp và trụ sở của Công ty giữ nguyên.

Ngày 20/9/2024, Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền gốc và lãi tạm tính là 455.576.614 đồng của thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ; phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ1: 29693 ký ngày 14/6/2022.

Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:

  1. Buộc ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 phải thanh toán cho Công ty Cổ phần M1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ và các văn bản tín dụng nêu trên tạm tính đến ngày 23/9/2024 là 10.975.061.139 đồng, trong đó nợ gốc: 8.300.000.000 đồng, nợ lãi: 2.657.061.139 đồng.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 phải thanh toán cho Công ty M1 số tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 24/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
  3. Trường hợp, ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh, thì Công ty M1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 517, tờ bản đồ số: 14, tọa lạc tại địa chỉ: B, Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc quyền sở hữu của Ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 622423, Số vào sổ cấp GCN: CH00847 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 21/12/2010 và Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số: 516, tờ bản đồ số: 14, tọa lạc tại địa chỉ: phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của Ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 622429, Số vào sổ cấp GCN: CH00873 do A cấp ngày 31/12/2010. Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký ngày 06/7/2022, số công chứng: 006909; quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được lập tại Văn phòng C và được đăng ký thế chấp ngày 6/7/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đ2.
  4. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm nêu trên mà vẫn chưa thanh toán hết nợ thì ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho Công ty Cổ phần M1.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2, đã được toà án tống đạt hợp lệ các thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà và giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
  2. Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản nên căn cứ khoản 3 Điều 26, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại thành phố T nên căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về thủ tục tố tụng:
  4. Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

    Theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS ngày 29 tháng 12 năm 2023, Hợp đồng chuyển nhượng số 02/2023/VPB-MARS ngày 29 tháng 12 năm 2023 cùng các Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V1 với Công ty TNHH Một thành viên M1 (M) thì Ngân hàng TMCP V1 đồng ý bán và M đồng ý mua (các) khoản nợ của khách hàng vay là ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 đã ký kết với V2. Ngày 16/4/2024, Công ty TNHH MTV M1 đã được chuyển đổi thành Công ty Cổ phần M1 do đó. Do vậy căn cứ Điều 7 Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng quy định pháp luật trong giải quyết tranh chấp về nợ xấu, tài sản đảm bảo nợ xấu tại Tòa án nhân dân thì Công ty Cổ phần M1 được xác định là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1.

  5. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    1. Đối với yêu cầu buộc bị đơn trả nợ gốc:
    2. Bị đơn ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 vắng mặt trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án và không có văn bản phản hồi đối với các tài liệu chứng cứ do Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) xuất trình. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, các tài liệu chứng cứ do Ngân hàng V1 xuất trình thuộc trường hợp không cần phải chứng minh.

      Căn cứ Hợp đồng cho vay số: LN2206166009246 ký ngày 22/06/2022, thể hiện: Ngân hàng V1 cho ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 vay số tiền Số tiền vay: 8.300.000.000 đồng (bằng chữ: tám tỷ ba trăm triệu đồng).

      Căn cứ Giấy đề nghị giải ngân ngày 22/6/2022, thể hiện ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 đã nhận tiền vay, số tiền giải ngân là 8.300.000.000 (Bằng chữ: tám tỷ ba trăm triệu đồng) theo hình thức chuyển khoản vào tài khoản của người thụ hưởng. Như vậy, có căn cứ để xác định Ngân hàng V1 cho ông ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 vay số tiền nợ gốc là 8.300.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ tám trăm triệu đồng). Phía nguyên đơn cho rằng bị đơn đã thanh toán 428.188.207 đồng, trong đó gốc là: 0 đồng, lãi là: 428.188.207 đồng nhưng tới ngày 16/12/2022 không tiếp tục thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng, yêu cầu ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 có mặt tại Tòa để cung cấp lời khai, hòa giải và xét xử nhưng bị đơn ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 vẫn vắng mặt không lý do, không phản hồi đối với các ý kiến và yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, trình bày của nguyên đơn cho hiện ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên vay được quy định tại mục 6 Điều 1 của hợp đồng cho vay là có căn cứ. Căn cứ Điều 463, Điều 465 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng V1: Buộc ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 thanh toán số tiền nợ gốc là 8.300.000.000 đồng (Bằng chữ: tám tỷ ba trăm triệu đồng) cho Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1).

    3. Đối với yêu cầu buộc bị đơn trả tiền lãi:
    4. Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi, và được quy định trong hợp đồng. Lãi suất các bên thỏa thuận là 10.3%/năm, cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Sau đó được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần, lãi quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn. Căn cứ mục 8 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng nói trên, ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả tiền nợ gốc nên toàn bộ số nợ chuyển sang nợ quá hạn. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) về số tiền lãi: Buộc ông ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 có trách nhiệm trả nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 23/9/2024 cho Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) là 2.657.061.139 đồng.

    5. Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn, tiếp tục chịu trách nhiệm trả tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 24/9/2024 theo hợp đồng tín dụng nói trên cho đến khi bị đơn thanh toán dứt nợ là phù hợp với thỏa thuận giữa các bên và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
    6. Đối với tài sản thế chấp: Tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký ngày 06/7/2022, số công chứng: 006909; quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được lập tại Văn phòng C và được đăng ký thế chấp ngày 6/7/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đ2, Thành phố Hồ Chí Minh ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 tự nguyện thế chấp các tài sản y là:
      • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 517, tờ bản đồ số: 14, tọa lạc tại địa chỉ: B, Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 622423, Số vào sổ cấp GCN: CH00847 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 21/12/2010, cập nhật biến động chủ sử dụng sang cho ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 ngày 01/07/2022;
      • Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số: 516, tờ bản đồ số: 14, tọa lạc tại địa chỉ: phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của Ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 622429, Số vào sổ cấp GCN: CH00873 do A cấp ngày 31/12/2010, cập nhật biến động chủ sử dụng sang cho ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 ngày 01/07/2022

      Căn cứ vào Điều 317, Điều 318, Điều 320 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng V1 đối với yêu cầu: Trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì khách hàng vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ còn lại.

    7. Xét, đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/8/2024 là 455.576.614 đồng của thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ; phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ1: 29693 ký ngày 14/6/2022 là tự nguyện và đúng theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  6. Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn - Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 phải chịu tiền án phí. Ngân hàng V1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Điều 317; Điều 319; Điều 320; Điều 463; Điều 465; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Luật phí và lệ phí năm 2015;
  • - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1):
  2. Buộc ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/9/2024 là 10.975.061.139 (mười tỷ chín trăm bảy mươi lăm triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn một trăm ba mươi chín) đồng, trong đó nợ gốc: 8.300.000.000 đồng, nợ lãi: 2.657.061.139 đồng.

    Kể từ ngày 24/9/2024 cho đến khi thanh toán xong ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 tiếp tục phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng Hợp đồng cho vay số: LN2206166009246 ký ngày 22/06/2022 đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 cho Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1).

    Trong trường hợp, ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) thì Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 517, tờ bản đồ số: 14, tọa lạc tại địa chỉ: B, Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 622423, Số vào sổ cấp GCN: CH00847 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 21/12/2010, cập nhật biến động chủ sử dụng sang cho ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 ngày 01/07/2022; Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số: 516, tờ bản đồ số: 14, tọa lạc tại địa chỉ: Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 622429, Số vào sổ cấp GCN: CH00873 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 31/12/2010, cập nhật biến động chủ sử dụng sang cho ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 ngày 01/07/2022 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký ngày 6/7/2022, số công chứng: 006909; quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được lập tại Văn phòng C giữa ông Nguyễn Văn Q, bà Bùi Thị N2 và Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 – Chi Nhánh B.

    Trường hợp sau khi phát mãi tài sản thế chấp vẫn không đủ để trả nợ thì ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Hợp đồng cho vay số: LN2206166009246 ký ngày 22/06/2022 cho đến khi trả hết nợ cho Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1).

  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/8/2024 là 455.576.614 đồng của thẻ tín dụng số hồ sơ thẻ 377-P-9439985 theo Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ; phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ1: 29693 ký ngày 14/6/2022.
  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  5. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 118.957.061 đồng (một trăm mười bảy triệu không trăm bảy mươi hai nghìn một trăm sáu mươi tám) đồng ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 phải chịu, ông Nguyễn Văn Q và bà Bùi Thị N2 chưa nộp tiền án phí.
  6. Công ty Cổ phần M1 (với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1) được nhận lại tiền tạm ứng án phí 56.802.949 (năm mươi bảy triệu năm trăm ba mươi ba nghìn năm trăm bảy mươi hai ) đồng theo Biên lai thu số 0001401 ngày 12/12 /2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập.

  7. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
  8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Thủ Đức
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4540/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4540/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger