|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 454/2024/DS-PT Ngày: 14-11-2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Phúc
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Thư ký phiên tòa: Ông Hà Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa:
Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 373/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024, về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 375/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1976 (có mặt).
- Địa chỉ cư trú: Số A, ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1961 (có mặt).
- Địa chỉ cư trú: Số A, ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh P1, sinh năm 1990 (có mặt).
- Địa chỉ cư trú: Số A, ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1.
- Địa chỉ trụ sở chính: A T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thanh T – Trưởng phòng G; Địa chỉ: Số B, đường H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An (Theo Giấy uỷ quyền số 1144/UQ-HĐQT-NHCT18 ngày 22/9/2021 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu B1, sinh năm 1960 (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị Thanh P1, sinh năm 1990 (có mặt);
- Ông Nguyễn Duy P2, sinh năm 1996 (vắng mặt);
- Cùng địa chỉ: Số A ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị Kim E, sinh năm 1983 (vắng mặt);
- Địa chỉ: Số A ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Duy K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 23/3/2022, lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Duy K trình bày:
Ông K là chủ sử dụng đất diện tích 113,1m², đất ở tại nông thôn, thuộc thửa đất 255, tờ bản đồ số 43, tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An theo GCNQSDĐ số CG998876 được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho bà Nguyễn Thị M ngày 17/4/2017, cập nhật sang tên do nhận thừa kế cho ông Nguyễn Duy K ngày 16/4/2021. Thửa đất này có nguồn gốc được cha mẹ tặng cho và xây dựng nhà từ năm 2002. Khi xây dựng nhà có chừa lại phần đất đầu trên khoảng 35cm, đầu dưới khoảng 90cm để tránh xung đột với hộ giáp ranh và thuận tiện đi trong hẻm để sửa chữa nhà.
Giáp ranh với thửa đất của ông là thửa đất 118, tờ bản đồ số 1-1 (thửa mới 222, tờ bản đồ số 43) của ông Nguyễn Hữu P. Khoảng năm 2007 ông P xây dựng nhà và cũng chừa lại phần đất 0,4m ngang thuộc phần đất của ông K.
Đến năm 2021, sau khi bàn bạc với ông P để đi đến thống nhất ông K chi tiền để tráng bê tông, làm cửa sắt trên diện tích đất của ông K và sẽ giao mỗi gia đình một chìa khoá để sử dụng chung cho an toàn. Tuy nhiên, sau khi đổ bê tông và làm cửa sắt thì ông P không cho ông làm tiếp và tranh chấp tại UBND xã T Hiện nay con hẻm này đang để một số vật dụng xây dựng của gia đình ông và một số đồ gia dụng không sử dụng của ông P, trên tường của mỗi nhà có 02 cục nóng máy lạnh.
Tại thời điểm chỉ ranh đất để tiến hành đo đạc thực tế theo mảnh trích đo có sự nhầm lẫn nên xác định ranh không chính xác. Nay ông xác định ranh đất của ông với ông P là theo ranh bản đồ địa chính và xác định yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu ông P trả lại phần đất bị lấn chiếm tại vị trí khu B, diện tích đo đạc thực tế 3,9m², khu C, diện tích đo đạc thực tế 7m² thuộc thửa đất 255, tờ bản đồ số 43, tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 190-2023 ngày 26/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B.
Tại đơn phản tố ngày 08/8/2023, lời trình bày trong quá trình tố tụng bị đơn ông Nguyễn Hữu P và người đại diện theo uỷ quyền bà Nguyễn Thị Thanh P1 trình bày:
Ông P là chủ sử dụng thửa đất 118, tờ bản đồ số 1-1, diện tích 97m², tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An theo GCNQSDĐ số L667447 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà Nguyễn Thị Đ, cập nhật sang tên cho ông P ngày 01/11/2008 do nhận tặng cho. Tiếp giáp với thửa đất này là thửa đất 126 (thửa mới 255) của ông K.
Ông K đã xây dựng nhà trên toàn bộ thửa 126, không còn chừa ra phần đất nào. Năm 2010, ông P mới xây dựng lại nhà và chừa ra một phần đất để mở cửa sổ và chừa lối đi thoát hiểm khi xảy ra hoả hoạn.
Đến năm 2019, ông K xây dựng nhà sau lấn sang đất của ông P và xin được xây tạm vì nhà ông K sắp sập nhưng không được ông P đồng ý. Đến năm 2021 ông K tự ý thuê người dọn dẹp hẻm, tráng xi măng, làm cửa sắt, dời đồng hồ nước trên phần đất thuộc quyền sử dụng của ông P nên ông P đã trình báo UBND xã T và tranh chấp cho đến nay. Hiện nay ông P vẫn chưa cấp đổi GCNQSDĐ theo bản đồ mới, theo kết luận giám định thì chữ ký mang tên Nguyễn Hữu P trong hồ sơ đăng ký cấp đổi không phải do ông P ký và viết ra.
Nay ông P xác định phần đất tại vị trí khu (B) diện tích đo đạc thực tế 3,9m², khu (C) diện tích đo đạc thực tế 7m² theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 190-2023 ngày 26/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B thuộc quyền sử dụng thửa đất 118 của ông P nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời có yêu cầu phản tố buộc ông K tháo dỡ, di dời các công trình xây dựng để trả lại phần đất tại vị trí khu (B) diện tích đo đạc thực tế 3,9m² và khu (C), diện tích đo đạc thực tế 7m² thuộc thửa đất 118, tờ bản đồ số 1-1, tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP C1 trình bày:
Ngày 16/09/2022, Ngân hàng có ký hợp đồng tín dụng số 22070121/2022- HĐCVHM/NHCT704 với ông Nguyễn Hữu P, bà Nguyễn Thị Thu B1. Hạn mức hợp đồng là 200.000.000 đồng, thời hạn 12 tháng với mục đích kinh doanh bổ sung vốn lưu động trồng thanh long và cho đến hiện tại dư nợ của ông Nguyễn Hữu P và bà Nguyễn Thị Thu B1 tại Ngân hàng là 200,000,000 đồng.
Ông Nguyễn Hữu P, bà Nguyễn Thị Thu B1 thế chấp tại Ngân hàng Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 677447 do UBND huyện B, tỉnh Long An cấp ngày 18/12/1997, đăng ký biến động ngày 01/11/2008; Thửa đất số 118; 124, tờ bản đồ số 1-1, địa chỉ tại xã T, huyện B, tỉnh Long An theo HĐBĐ số 20080307/2020/HĐBĐ/NHCT704 ngày 17/09/2020 được ký giữa Ngân hàng TMCP C1 – Chi nhánh B2- P3 và ông Nguyễn Hữu P, bà Nguyễn Thị Thu B1.
Trong quá trình vay vốn, ông Nguyễn Hữu P và bà Nguyễn Thị Thu B1 luôn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, không vi phạm hợp đồng tín dụng nên ngân hàng tiếp tục duy trì mối quan hệ vay vốn của khách hàng.
Ngân hàng không yêu cầu khởi kiện hoặc có ý kiến gì đối với ông P, bà B1 trong vụ án này. Trường hợp phát sinh tranh chấp giữa Ngân hàng với ông P, bà B1 thì Ngân hàng sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu B1, bà Nguyễn Thị Thanh P1, ông Nguyễn Duy P2 là vợ và con của ông Nguyễn Hữu P đang sống trên thửa đất 118. Các ông bà thống nhất với lời trình bà của ông Nguyễn Hữu P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim E là vợ ông Nguyễn Duy K, thống nhất lời trình bày của chồng và có yêu cầu vắng mặt.
Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức đã căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 các Điều 35, Điều 39, Điều 157, Điều 161, Điều 164, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 166, Điều 170, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 14, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Duy K về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu P.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Hữu P về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với nguyên đơn ông Nguyễn Duy K.
- Ông Nguyễn Hữu P có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Duy K giá trị đường đan tại vị trí khu (B) và khu (C2) là 794.000 đồng (bảy trăm chín mươi bốn ngàn đồng).
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá, thu thập chứng cứ, giám định: 26.800.000 đồng (Hai mươi sáu triệu tám trăm ngàn đồng). Ông K và ông P mỗi người chịu 13.400.000 đồng (Mười ba triệu bốn trăm ngàn đồng) và đã nộp xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền này, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông Nguyễn Duy K được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng đối với phần đất tại vị trí khu (C), diện tích đo đạc thực tế 5,3m²; khu (C1), diện tích đo đạc thực tế 0,7m²; khu (B1), diện tích đo đạc thực tế 0,1m², thuộc một phần thửa đất số 255, tờ bản đồ số 43, loại đất ONT, toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Hữu P có nghĩa vụ di dời toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của ông P trên thửa đất nêu trên để trả đất trống cho ông K quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật đất đai.
Ông Nguyễn Hữu P được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng đối với phần đất tại vị trí khu (B), diện tích đo đạc thực tế 3,8m² và khu (C2), diện tích đo đạc thực tế 1m², thuộc một phần thửa đất 222, tờ bản đồ số 43, loại đất ONT, toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Duy K phải có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của ông K trên thửa đất nêu trên để trả đất trống cho ông P quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật đất đai.
Thửa đất trên được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho bà Nguyễn Thị M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG998876 ngày 17/4/2017, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B đăng ký biến động sang tên ông Nguyễn Duy K ngày 16/4/2021.
(Vị trí, tứ cận, loại đất, chiều dài và chiều rộng các phần đất trên được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 190-2023 ngày 26/7/2023 và Mảnh trích đo địa chính số 380-2024 ngày 18/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B, đính kèm theo Bản án này).
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh lại diện tích đất thực tế đang sử dụng theo quy định pháp luật đất đai.
Cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan Tài nguyên Môi trường có thẩm quyền căn cứ vào Bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án để giải quyết, điều chỉnh, biến động đất đai và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp kết quả giải quyết của Tòa án.
Ông Nguyễn Hữu P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Duy K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012160 ngày 10/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An sang án phí (đã nộp đủ).
Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6,7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 05/8/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Duy K kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn ông Nguyễn Duy K xác định nội dung kháng cáo và trình bày nội dung kháng cáo: Ông K và ông P có mối quan hệ họ hàng. Cha của ông K là anh ruột của mẹ ông P. Nhà của ông K và nhà của ông P giáp ranh nhau, nguồn gốc hai thửa đất đều do cha mẹ của các bên để lại. Vị trị đất đang chấp chấp là khoảng trống giáp ranh giữa hai nhà do gia đình hai bên cha, mẹ của ông K và ông P cùng sử dụng, sau này ông K và ông P được cho đất thì hai nhà vẫn tiếp tục sử dụng chung. Để thuận tiện cho việc sử dụng chung, ông K có hỏi xin ông P cho ông K tráng xi măng, làm cổng rào bên ngoài để tránh người lạ vào, chìa khóa cổng giao cho mỗi gia đình giữ một cái cho tiện sử dụng thì ông P đồng ý. Ông đang thực hiện đổ bê tông thì ông P thay đổi ý kiến nên tranh chấp xảy ra. Phần đất này ông là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông yêu cầu xác định ông là người có quyền sử dụng đất. Hiện bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông đang giữ, không cầm cố, thế chấp cho cá nhân, tổ chức nào.
Ông Nguyễn Hữu P trình bày: Nhà của ông và nhà của ông K giáp ranh nhau. Phần đất tranh chấp giữa hai nhà do gia đình ông và gia đình ông P cũng sử dụng từ rất lâu. Nay ông K có ý định chiếm luôn phần đất này là không phù hợp nên hai bên phát sinh tranh chấp. Do ông và ông K có mối quan hệ họ hàng nên ông chấp nhận bản án sơ thẩm, bản án xử như vậy là hợp tình, hợp lý nên ông không kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông K. Hiện bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông đang giữ, không cầm cố, thế chấp cho cá nhân, tổ chức nào.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu B1, bà Nguyễn Thị Thanh P1 thống nhất với trình bày của ông P. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông K.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của đương sự trong thời hạn luật định đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Duy K và quan điểm giải quyết vụ án, thấy rằng:
Phần đất tranh chấp khu B và khu C theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 190-2023 ngày 26/7/2023 và Mảnh trích đo địa chính số 380-2024 ngày 18/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B thuộc ranh bản đồ địa chính của thửa 255 do ông K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng giữa ông K với ông P chưa ký biên bản xác định ranh mốc giới và ông P chưa nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính mới. Nguồn gốc đất của ông K và ông P đều do nhận tặng cho từ cha mẹ, quá trình sử dụng từ trước đến nay hai bên đều xác định xây dựng nhà có chừa ra một phần đất để tránh tranh chấp và làm hẻm để sử dụng chung từ trước đến nay. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính cũ các bên chưa ai đo đạc thực tế và không ký biên bản giáp ranh, diện tích hiện trạng sử dụng không trùng khớp với diện tích được cấp trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với việc cấp đổi từ bản đồ tỷ lệ 1:5000 sang tỷ lệ 1:2000 theo hồ sơ cung cấp thì có đo đạc thực tế, tuy nhiên theo kết quả giám định thì chữ ký trên Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất không đủ cơ sở kết luận, chữ ký trong Biên bản thẩm tra ranh đất về diện tích hiện trạng sử dụng đất thay đổi so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không phải do ông P ký và viết ra nên không thế căn cứ vào ranh đất như các bên trình bày cũng như ranh bản đồ địa chính để xem xét ranh giới giữa các bên.
Xét thấy, phần đất tranh chấp các bên đều xác định sử dụng chung ổn định trong thời gian dài, theo công văn của UBND xã T cũng xác định phần đất tranh chấp khu B, C do hai bên sử dụng để đồ đạc và vật dụng nên cần chia mỗi bên ½ đất theo ranh nhà. Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn, phân chia mỗi bên ½ phần đất theo ranh nhà là phù hợp.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Duy K được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Duy K, ông Nguyễn Hữu P, bà Nguyễn Thị Thu B1, bà Nguyễn Thị Thanh P1 có mặt. Các đương sự còn lại vắng mặt đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về thẩm quyền giải quyết và phạm vi xét xử phúc thẩm:
Ông Nguyễn Duy K khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hữu P trả lại phần đất bị lấn chiếm tại vị trí khu B (diện tích đo đạc thực tế 3,9m²) và khu C (diện tích đo đạc thực tế 7m²) thuộc thửa đất 255; bị đơn ông Nguyễn Hữu P có yêu cầu phản tố buộc ông K tháo dỡ, di dời các công trình xây dựng để trả lại phần đất tại vị trí khu B (diện tích đo đạc thực tế 3,9m²) và khu C (diện tích đo đạc thực tế 7m²) thuộc thửa đất 118 theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 190-2023 ngày 26/7/2023 của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B.
Theo mảnh trích đo địa chính phân khu số 380-2024 ngày 18/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B trí tranh chấp được phân khu gồm vị trí khu (C), diện tích đo đạc thực tế 5,3m²; khu (C1), diện tích đo đạc thực tế 0,7m²; khu (B1), diện tích đo đạc thực tế 0,1m², khu (B), diện tích đo đạc thực tế 3,8m² và khu (C2), diện tích đo đạc thực tế 1m².
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và một phần yêu câu phản tố của bị đơn, xác định nguyên đơn ông K được quyền sử dụng vị trí C, C1, B1; bị đơn ông P được quyền sử dụng khu B, C2. Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn ông Khang kháng C đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem xét trong phạm vi liên quan đến yêu cầu kháng cáo của đương sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn không rút kháng cáo, các đương sự không cung cấp chứng cứ mới, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Duy K, thấy rằng:
[4.1] Các đương sự thống nhất ông K và ông P có mối quan hệ họ hàng (cha của ông K và mẹ của ông P là anh chị em ruột với nhau), nguồn gốc thửa đất số 222, tờ bản đồ số 43 (là thửa 118, tờ bản đồ số 1-1 cũ) do ông nội của ông K cho cha ông K; thửa 225, tờ bản đồ 43 của ông P do ông nội của ông P cho mẹ ông P cất nhà ở. Trong quá trình sử dụng đất liền ranh hai bên không thống nhất cùng sử dụng chung khoảng trống của hai nhà nên phát sinh tranh chấp.
[4.2] Về quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Đối với thửa 225 của ông K:
Ngày 17/4/2017, bà Nguyễn Thị M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 225, tờ bản đồ số 43, diện tích 113,1m², loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện B.
Ngày 16/4/2021, ông Nguyễn Duy K được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B chỉnh lý tên chủ sử đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M (nhận thừa kế).
Đối với thửa 118, 124 của ông P:
Ngày 18/12/1997, bà Nguyễn Thị Đ được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 118, diện tích 97m², loại đất T; thửa đất số 124, diện tích 10m², loại đất T, cùng tờ bản đồ số 1-1, cùng tọa lạc tại xã T, huyện B.
Ngày 01/11/2008, ông Nguyễn Hữu P được Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B chỉnh lý tên chủ sử đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đ (nhận tặng cho theo hợp đồng được UBND xã T chứng thực số 382 ngày 29/9/2008).
[4.3] Xét về hiện trạng sử dụng đất:
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và chứng thư thẩm định giá thì trên khoảng không khu B và khu C ông K có đặt 2 cục nóng máy lạnh, ông P đặt 02 cục nóng máy lạnh. Hiện trạng phần đất tranh chấp là 01 phần công trình xây dựng của ông K gồm một phần nhà 1 kết cấu móng bê tông, cột gạch, tường xây gạch, sơn nước, nền gạch men, mái tôn thiếc, xà gồ thép, la phông bằng tấm prima tại vị trí (C1) diện tích 0,7m², một phần mái che lợp tôn thiếc, xà gồ thép, nền xi măng diện tích 1,2m², khung rào bằng thép diện tích 1,3m² và đường đan bê tông đá 1x2, không cốt thép dày 5-10cm, láng vữa xi măng hết hẻm do nguyên đơn ông K xây dựng.
[4.4] Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Theo Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B xác định vị trí khu B, C được thể hiện theo Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, việc xác định vị trí B, C thuộc thửa số mấy trên Bản đồ địa chính tỷ lệ 1/5000 là không xác định được. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 126 cho bà Nguyễn Thị M năm 2010 và cấp thửa 118 cho ông Nguyễn Hữu P năm 2008 không đo đạc thực tế và không lập biên bản ký giáp ranh giữa các thửa đất liền kề. Việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 222 và 255 có đo đạc và ký giáp ranh với các chủ đất liền kề.
[4.5] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông P cho rằng ông không ký tên trên hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trưng cầu giám định.
Theo Kết luận giám định số 1347/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh L thì chữ ký cần giám định trên Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất với chữ ký mẫu so sánh vừa có đặc điểm giống nhau vừa có đặc điểm khác nhau nên không đủ cơ sở kết luận khẳng định. Chữ ký trong Biên bản thẩm tra ranh đất về diện tích hiện trạng sử dụng đất thay đổi so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp với các mẫu chữ ký là không phải do cùng một người viết ra. Hiện nay ông P cũng chưa đến Ủy ban nhân dân xã T nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa mới 222. Như vậy, hai bên chưa có sự thống nhất về ranh đất nên hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đủ căn cứ để làm cơ sở giải quyết vụ án. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu không đo đạc thực tế và diện tích thực tế sử dụng không đúng diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cũng không thể căn cứ diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ để làm căn cứ giải quyết. Do đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các bên không phải là chứng cứ duy nhất làm căn cứ giải quyết vụ án. Cần phải kết hợp các căn cứ vào quá trình sử dụng đất và các chứng cứ khác làm căn cứ xác định quyền sử dụng đất của các đương sự.
[4.6] Về quá trình sử dụng đất: Ông K và ông P trình bày thống nhất khi cha của ông K và mẹ của ông P được cho đất thì gia đình hai bên cùng sử dụng cất nhà ở, khi xây nhà hai bên gia đình đều có chừa ra một khoảng không gian trống hai bên gia đình cùng sử dụng. Sau khi ông K, ông P được cho đất, sửa nhà, xây lại nhà mới thì hiện trạng khu B, khu C vẫn không thay đổi và ông P, ông K tiếp tục sử dụng đến khi phát sinh tranh chấp. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông K xác định, để thuận tiện cho việc sử dụng chung, ông K có hỏi xin ông P cho ông K tráng nền xi măng phần sử dụng chung này, làm cổng rào bên ngoài khóa lại để tránh người lạ vào, chìa khóa cổng giao cho mỗi gia đình giữ một cái cho tiện sử dụng thì ông P đồng ý. Ông đang thực hiện tráng xi măng thì ông P thay đổi ý kiến nên xảy ra tranh chấp. Do ông K và ông P có quá trình sử dụng chung lâu dài nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông K và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông P. Xác định ranh giới giữa hai thửa đất là ½ theo ranh nhà của 2 bên. Ông K được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng đối với phần đất tại vị trí khu (C) diện tích 5,3m², Khu (C1) diện tích 0,7m², khu (B1) diện tích 0,1m². Ông P được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng đối với khu (B) diện tích 3,8m² và khu (C2) diện tích 1m² là hợp tình, hợp lý.
Nguyên đơn ông Khang kháng C nhưng không cung cấp được chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận. Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông K phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Duy K.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bị đơn ông Nguyễn Duy K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0007561 ngày 05/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Hồng Vân |
Bản án số 454/2024/DS-PT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 454/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Duy K
