Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 454/2024/HSST

Ngày: 11-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Phạm Thị Hồng Hương

2/ Bà Thi Thị Tuyết Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Biên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa trực tuyến công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 576/2024/TLST-HS, ngày 29/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4852/2024/QĐXXST-HS ngày 26/8/2024, phiên tòa được tiến hành tại hai điểm cầu, trong đó điểm cầu trung tâm là phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, điểm cầu thành phần là phòng xử án tại Trại tạm giam C (T) Công an Thành phố H, đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc T; giới tính: Nam; sinh ngày 11 tháng 11 năm 1987, tại tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú: số C, ấp M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; chỗ ở trước khi bị bắt: Số A N, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1946 và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1955; gia đình bị cáo có 03 anh, chị, em ruột và người lớn nhất sinh năm 1978, bị cáo là người nhỏ nhất; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/5/2018 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H cho đến ngày 07/01/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giam để áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và đến ngày 28/12/2023 tiếp tục bị tạm giam tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T: Bà Lê Thị Bích H1, Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người làm chứng: Ngô Thành N - sinh năm 1991,

Trú tại: Số G N, Khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 22 giờ 30 phút ngày 01/5/2018, tại trước nhà số R, đường H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q đã phát hiện Nguyễn Ngọc T đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi vải của T đang đeo trên người có 11 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, là ma túy ở thể rắn có khối lượng 58,7979 gam, loại Ketamine; 07 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 26,2964 gam, loại Methamphetamine; 62 viên nén màu hồng có khắc chữ LV và 10 viên nén màu xanh, đều là ma túy ở thể rắn có khối lượng 23,5834 gam, loại MDMA nên đưa T cùng vật chứng vụ án đến Công an phường T, Quận G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cùng ngày 01/5/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã phát hiện, bắt quả tang Ngô Thành N đang tổ chức cho các đối tượng khác sử dụng ma túy gồm: Tô Đình H2, Trần Thị Trúc L, Trần Thanh T1, Nguyễn Ngọc T2, Võ Minh D và Nguyễn Hoàng V tại P, lầu 1, nhà số R H, khu phố C, phường T, Quận G, thu giữ 2,5 viên ma túy tổng hợp màu hồng và 02 gói ma túy Ketamine. N khai đây là ma túy của N mua của T để cả nhóm sử dụng hết một phần, phần còn còn lại chưa kịp sử dụng thì bị thu giữ.

Tất cả số ma túy thu giữ của T đã được giám định theo kết luận giám định số 823/KLGĐ-H ngày 07/5/2018 của Phòng K1 - Công an Thành phố H.

Kết quả điều tra, đã xác định hành vi phạm tội của Nguyễn Ngọc T như sau: Do bản thân nghiện ma túy, không nghề nghiệp ổn định nên từ đầu tháng 12 năm 2017, T bắt đầu mua ma túy của người thanh niên tên N (không rõ lai lịch) tại khu vực cầu C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh để bán cho người nghiện nhằm thu lợi bất chính. Tính đến ngày bị bắt giữ, T đã 04 lần mua ma túy của N, mỗi lần mua với số tiền 45.000.000 đồng (không nhớ rõ khối lượng và loại ma túy) để bán cho nhiều người nghiện khác nhau (không biết họ tên, lai lịch). Trong đó, T đã 03 lần bán cho Ngô Thành N, mỗi lần 3.000.000 đồng ma túy tổng hợp (thuốc lắc) và K nhưng không rõ khối lượng là bao nhiêu, số ma túy thu giữ của N lúc bị bắt quả tang là ma túy của T bán cho N trước đó. Đến ngày 01/5/2018, T đem ma túy đến trước nhà số R, đường H, phường T, Quận G để bán cho Nam thì bị phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai của N.

* Về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị can T, nhận thấy:

- Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 1809/KLGĐ ngày 16/11/2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H - Bộ Y đã kết luận đối với bị can Nguyễn Ngọc T, như sau:

“Về y học: Trước trong khi thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Ngọc T có bị tâm thần phân liệt, thể hoang tưởng, giai đoạn thuyên giảm không hoàn toàn (F20.0.4-ICD 10); Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cho đến hiện tại có trạng thái rối loạn sự thích ứng lo âu trầm cảm hỗn hợp/ tâm thần phân liệt, thể hoang tưởng, thuyên giảm không hoàn toàn (F43.22/F20.4-ICD10).

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước trong khi thực hiện hành vi phạm tội bị can T có hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cho đến hiện tại mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi và chưa đủ năng lực để làm việc với cơ quan tố tụng; Cần được quản lý, theo dõi và điều trị bắt buộc tại Viện Pháp y tâm thần trung ương B, sau đó sẽ tiếp tục làm việc với cơ quan tố tụng.”

- Ngày 07/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam và Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Nguyễn Ngọc T tại Viện pháp y tâm thần trung ương B - Bộ Y để điều trị bệnh bắt buộc. Ngày 09/01/2019, Cơ quan điều tra ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự; Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với T để thi hành Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với T.

- Ngày 02/8/2023, Viện Pháp y tâm thần Trung ương B có Công văn gửi Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thông báo về việc tình trạng tâm thần của bị can Nguyễn Ngọc T đã ổn định, không cần thiết áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nữa, cần tiến hành trưng cầu giám định sau thời gian bắt buộc chữa bệnh đối với T nên ngày 12/9/2023 Viện kiểm sát nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh ra quyết định trưng cầu giám định số 09/QĐ-VKS-P1 đề nghị Viện Pháp y tâm thần Trung ương B tiến hành giám định tình trạng tâm thần hiện nay đối với bị can Nguyễn Ngọc T.

- Ngày 11/12/2023, Viện Pháp y tâm thần Trung ương B - Bộ Y ra Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 952/KLBB-VPYTW đối với bị can Nguyễn Ngọc T, như sau: hiện tại bệnh của bị can Nguyễn Ngọc T đã ổn định, không cần thiết bắt buộc chữa bệnh nữa; Bị can có đủ nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

- Ngày 22/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị can Nguyễn Ngọc T sau thời gian bắt buộc chữa bệnh. Đến ngày 28/12/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự; Quyết định phục hồi điều tra bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Ngọc T đế tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Ngọc T: 01 gói giấy được niêm phong bên ngoài ghi vụ số 823/18, có chữ ký của Giám định viên Trần Đình H3 và Cán bộ điều tra Hồ Văn C1, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 02 điện thoại di động hiệu Nokia dùng để liên lạc cá nhân và mua bán ma túy; 01 cân điện tử và 01 túi vải dùng để phân chia và cất giấu ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 497/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Ngọc T, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Bị cáo Nguyễn Ngọc T khẳng định sức khỏe thể chất và tinh thần của bị cáo hoàn toàn ổn định, tỉnh táo, nhận thức đầy đủ về lời khai của mình, không bị bất kỳ ảnh hưởng nào của bệnh đã điều trị trước đó và có đủ nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật. Qua phần thẩm vấn, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânThành phố H phát biểu quan điểm luận tội: Sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án, trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa cũng như toàn bộ lời khai của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm h khoản 3 và khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 17 đến 18 năm tù; đồng thời buộc bị cáo phải nộp số tiền là 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung công quỹ nhà nước.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xử lý vật chứng và nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Ngọc T không tranh luận về tội danh, nhưng về mức hình phạt thì bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Luật sư Lê Thị Bích H1 trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo: Luật sư thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, mức án đề nghị đối với bị cáo là quá nghiêm khắc vì qua kết luận giám định pháp y tâm thần đã thể hiện trước, trong và sau khi phạm tội bị cáo có tình trạng hạn chế hành vi do bệnh tâm thần và sau khi bị cáo phạm tội thì bị cáo bị mất toàn bộ năng lực hành vi do bệnh tâm thần, dẫn đến phải đi chữa bệnh bắt buộc. Bản thân bị cáo từ năm 2015 trước thời điểm bị cáo sử dụng ma túy năm 2017 đã đi khám và điều trị về bệnh tâm thần, điều này còn thể hiện tại bản tự khai ban đầu của T có nội dung “tự nhận mình là bác sĩ”, thời gian bị cáo T bị bắt buộc chữa bệnh phải trải qua đến 05 năm điều trị mới được tình trạng sức khỏe tâm thần như hiện tại, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình trạng bệnh của bị cáo để xem xét toàn diện vụ án. Ngoài ra số ma túy bị truy cứu trong vụ án, sau khi quy đổi tính tổng khối lượng các chất ma túy ở thể rắn thì định lượng là ở đầu khung hình phạt và bị bắt quả tang nên được thu hồi gần như toàn bộ cũng hạn chế tác động ra ngoài xã hội. Về các tình tiết giảm nhẹ, bên cạnh tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội trong tình trạng bệnh hạn chế năng lực hành vi, thì bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra làm sáng tỏ vụ án đối với đối tượng N là tình tiết thuộc điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về nhân thân thì bị cáo mới phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn chỉ đến lớp 8, hoàn cảnh gia đình khó khăn và có mẹ già lớn tuổi. Từ đó, luật sư đề nghị áp dụng các điểm s, q, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và áp dụng thêm khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Đồng thời đề nghị miễn hình phạt bổ sung, do bị cáo bị bắt tạm giam và buộc chữa bệnh nhiều năm nay, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không có tài sản riêng.

Bị cáo Nguyễn Ngọc T không tranh luận bổ sung và đồng ý lời bào chữa của luật sư, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện viện kiểm sát đối đáp: Về tình tiết bị cáo mắc bệnh tâm thần đã được đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; về quan điểm luật sư cho rằng khối lượng ma túy là ở đầu khung khoản 3 của điều luật là chưa có cơ sở vì khối lượng sau khi tính tổng 03 chất ma túy là nhiều hơn mức mà luật sư xác định. Đối với quan điểm áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không có cơ sở vì bị cáo hoàn toàn không giúp cơ quan điều tra phát hiện tội phạm khác, cũng như việc bị cáo phạm tội nhiều lần, khối lượng ma túy lớn nên mức án đã đề nghị là phù hợp.

Qua nội dung đối đáp, luật sư và đại diện Viện kiểm sát đều giữ nguyên quan điểm đã trình bày và cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ra bản án đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong; biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định; kết luận giám định, lời khai và đối chất của các bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định như sau:

Vì mục đích tư lợi, nên từ đầu tháng 12 năm 2017, Nguyễn Ngọc T bắt đầu mua ma túy của người thanh niên tên N (không rõ lai lịch) để bán cho người nghiện nhằm thu lợi bất chính. Tính đến ngày 01/5/2018, thì T đã 04 lần mua ma túy của đối tượng N, mỗi lần mua ma túy với số tiền 45.000.000 đồng để bán cho nhiều người nghiện khác nhau, trong đó, T đã 03 lần bán cho Ngô Thành N, mỗi lần 3.000.000 đồng ma túy tổng hợp (thuốc lắc) và K nhưng không rõ khối lượng là bao nhiêu, số ma túy thu giữ của N lúc Ngô Thành N bị bắt quả tang là ma túy của T bán cho N trước đó gồm: 1,3910 gam Ketamine và 0,7647 gam MDMA, cũng như số ma túy Nguyễn Ngọc T bị bắt quả tang ngày 01/5/2018 khi đang cất giấu 58,7979 gam Ketamine; 26,1964 gam Methamphetamine và 23,5834 gam MDMA để bán cho người khác, thì Nguyễn Ngọc T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy tổng cộng gồm 60,1889 gam Ketamine; 26,1964 gam Methamphetamine và 24,3481 gam MDMA.

Do đó, hành vi của Nguyễn Ngọc T đã cấu thành vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đồng thời xem xét trên cơ sở quy định của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì số ma túy thu giữ của Nguyễn Ngọc T, cũng như số ma túy bị cáo T phải chịu trách nhiệm tổng cộng gồm: 26,1964 gam Methamphetamine và 24,3481 gam MDMA có tỷ lệ 50,54%; 60,1889 gam Ketamine có tỷ lệ 20,06%, tổng tỷ lệ phần trăm của 02 chất ma túy nêu trên chỉ là 70,06%, nên Nguyễn Ngọc T phạm tội thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”, tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2] Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm nghiêm trọng đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo có đủ độ tuổi, năng lực hành vi về hình sự, đồng thời đều nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân dẫn đến làm tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy, tạo tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, thể hiện ý thức coi thường và bất chấp pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai báo thành khẩn và có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội là người có bệnh hạn chế khả năng nhận thức và chưa có tiền án, tiền sự, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Trên đây là các tình tiết để Hội đồng xem xét cân nhắc khi lượng hình, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo.

Xét các bị cáo tuy được xác định không có tiền án, tiền sự, song hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc T là đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù trong trại giam một thời gian theo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cũng để cho bị cáo có đủ thời gian tự cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng là để răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Do bị cáo Nguyễn Ngọc T có hành vi mua bán ma túy nhằm mục đích thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự và buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp số tiền 5.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

[3] Đối với đối tượng tên N đã bán ma túy cho bị cáo T, do T khai không biết rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh, làm rõ để xử lý. Do vậy, yêu cầu tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ để xử lý theo các quy định của pháp luật, tránh bỏ lọt người phạm tội.

Đối với Nguyễn Thành N1, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số: 170/2018/HS-ST ngày 30/11/2018, nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[4] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đồng thời chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính, cũng như về hình phạt bổ sung đối với bị cáo tại phiên tòa.

Lập luận trên đây là cơ sở để chấp nhận quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T về một số tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, song không có cơ sở để áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc T dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, luật sư bào chữa cho bị cáo xuất trình tài liệu chứng cứ phù hợp với các quy định của pháp luật; luật sư, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện cơ bản là hợp pháp.

[6] Các vấn đề khác:

6.1/ Về vật chứng của vụ án:

- 01 gói giấy được niêm phong bên ngoài ghi vụ số 823/18, có chữ ký của Giám định viên Trần Đình H3 và Cán bộ điều tra Hồ Văn C1, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 túi vải dùng để phân chia và cất giấu ma túy. Hội đồng xét xử thấy các vật chứng này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 02 điện thoại di động hiệu N2 dùng để liên lạc cá nhân và mua bán ma túy; 01 cân điện tử là vật chứng các bị cáo dùng để phạm tội nên tịch thu sung công quỹ.

6.2/ Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.

6.3/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo các quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về hình phạt: Căn cứ điểm h khoản 3 và khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T: 16 (mười sáu) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/12/2023 và được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 01/5/2018 đến ngày 07/01/2019.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp phạt bổ sung số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.

2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; căn cứ khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

2.1/ Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) gói giấy được niêm phong bên ngoài ghi vụ số 823/18, có chữ ký của Giám định viên Trần Đình H3 và Cán bộ điều tra Hồ Văn C1, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) túi vải.

2.2/ Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: 01 (một) điện thoại di động Nokia (màu trắng xám, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động Nokia (màu đen, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) cân điện tử.

(Các vật chứng nêu trên được liệt kê theo Biên bản giao nhận tang vật số NK2024/455 ngày 29/7/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

3/ Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý đối với đối tượng N1 theo các quy định của pháp luật nhằm tránh bỏ lọt người phạm tội.

4/ Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q1;

Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11 tháng 9 năm 2024) để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)
  • - TAND Cấp cao tại TPHCM; (1)
  • - VKSND TPHCM; (3)
  • - Cục THADS; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Luật sư; (1)
  • - Người liên quan; (1)
  • - THAHS; (1)
  • - P. PV06 - CA TPHCM; (1)
  • - Sở Tư pháp (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (18) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đặng Hồng Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 454/2024/HSST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 454/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo điều 251 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger