Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 454/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/12/2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

2. Ông Phạm Văn Hễ.

– Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân- Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên

Ngày 09/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 05 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6094/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/11/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Quỳnh N, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: KP3, phường X, Thành phố L, tỉnh Đồng Nai

Địa chỉ tạm trú: 20/40/42 T, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Tang Y, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: F Khu phố B, Thị trấn V, huyện T, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai của nguyên đơn bà Trần Thị Quỳnh N thể hiện:

Bà và ông Tang Y tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29/2022 do Ủy ban nhân dân Thành phố L, tỉnh Đồng Nai ký ngày 30/5/2022.

Do khoảng cách địa lý ở hai nước khác nhau nên tình cảm vợ chồng dần dần xa cách, không thể chia sẻ hay quan tâm chăm sóc nhau. Hai bên ly thân, khoảng một năm nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Tang Y.

Về con chung: có 01 trẻ là T, sinh ngày 15/07/2022, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Tang Y cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà N khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 22/10/2024, bị đơn là ông Tang Y trình bày việc đăng ký kết hôn như bà N trình bày. Ông cũng cho rằng vợ chồng mâu thuẫn không hàn gắn được và đồng ý ly hôn. Về con chung có 01 trẻ là Tang A, sinh ngày 15/07/2022, ông đồng ý để bà N nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung ông xác định không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện các thủ tục tố tụng đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Quỳnh N và giao trẻ T, sinh ngày 15/07/2022 cho bà Quỳnh N trực tiếp nuôi. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, bị đơn cư trú tại Trung Quốc. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Các đương sự có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Tang Y cư trú tại Trung Quốc, đã có bản tự khai, đơn xin vắng mặt được chứng thực hợp lệ. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Quỳnh N và ông Tang Y tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29/2022 do Ủy ban nhân dân Thành phố L, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 30/5/2022. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Nhận thấy lời trình bày của hai bên thể hiện cuộc sống chung bình thường hạnh phúc thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do khác biệt quan điểm sống. Hiện nay bà N và ông Tang Y đang sinh sống ở hai nước khác nhau, khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó việc bà N yêu cầu ly hôn, ông Tang Y cũng đồng ý, Hội đồng xét xử ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa các bên.

Về con chung: Có 01 trẻ là T, sinh ngày 15/07/2022. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa 02 bên giao trẻ Tang A cho bà Trần Thị Quỳnh N trực tiếp nuôi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Quỳnh N không yêu cầu ông Tang Y cấp dưỡng nuôi con.

Ông Tang Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của các bên đương sự theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết do hai bên khai không có.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà N chịu theo quy định.

[5] Về quyền kháng cáo: Hai bên được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng:

- Các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 121 và 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

- Điều 26 Luật Thi hành án dân sự, sửa đổi, bổ sung năm 2014,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Quỳnh N

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị Quỳnh N và ông Tang Y

1.2. Về con chung: Giao trẻ T, sinh ngày 15/7/2022 cho bà Trần Thị Quỳnh N trực tiếp nuôi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Quỳnh N không yêu cầu ông Tang Y cấp dưỡng cho con.

Ông Tang Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của các bên đương sự theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Quỳnh N phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0031895 ngày 20/05/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Quỳnh N đã nộp đủ.

3. Về quyền kháng cáo:

Ông Tang Y vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Bà Trần Thị Quỳnh N được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - UBND thành phố Long Khánh, Đồng Nai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án (Xuân/15).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 454/2024/HNGĐ-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 454/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Trần Thị Quynh N và ông Tang Y
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger