Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 454/2024/DS-PT

Ngày: 28 - 8 - 2024

Về việc “Tranh chấp hụi"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lương
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Trang
Ông Nguyễn Thế Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Có – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 220/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2752/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 2796/2024/QĐ-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1971; Nơi cư trú: 87/88 ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm: 1971; nơi cư trú: 297/55 ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn Đ, sinh năm: 1966; nơi cư trú: Số B ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn Đ là bà Nguyễn Thị Huyền T. (Theo văn bản ủy quyền ngày 17 tháng 7 năm 2024) (Bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm

Tại đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến và phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Phạm Thị L trình bày:

Bà Nguyễn Thị Huyền T là chủ hụi, còn bà là hụi viên. Trong thời gian bà T tổ chức chơi hụi, bà có tham gia chơi các dây hụi như sau:

  • - Dây hụi thứ nhất: Hụi khui ngày 20/11/2021 (âm lịch), ngày mãn hụi 20/11/2023 âm lịch, hụi 1.000.000đồng/tháng, gồm 26 phần, bà tham gia 3 phần hụi. Bà đóng hụi sống được 25 tháng (hốt chót) thì bà T úp hụi không giao hụi. Tổng số tiền hụi bà T nợ bà trong dây hụi này là: 75.000.000đồng, trừ đầu thảo là còn 73.500.000 đồng, bà T có trả cho bà được 10.000.000 đồng, còn nợ lại 63.500.000 đồng.
  • Dây hụi thứ hai: Hụi khui ngày 05/01/2022 (âm lịch), ngày mãn hụi 05/12/2023 âm lịch, hụi 1.000.000đồng/tháng, gồm 25 phần, bà tham gia 02 phần hụi, đóng hụi sống được đến mãn hụi. Tổng số tiền hụi bà T nợ bà trong dây hụi này là: 48.000.000đồng, trừ đầu thảo 1.000.000 đồng, còn lại 47.000.000 đồng, bà T trả được cho bà 30.000.000 đồng, còn nợ lại 17.000.000 đồng.
  • Dây hụi thứ ba: Hụi khui ngày 05/01/2022 (âm lịch), ngày mãn hụi 05/01/2024, hụi 5.000.000đồng/tháng. Hụi gồm 26 phần, bà tham gia 02 phần hụi. Bà đóng hụi sống được 24 tháng thì bà T úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi). Tổng số tiền hụi bà T nợ bà trong dây hụi này là: 240.000.000đồng. Số tiền thực tế tôi đã đóng khoảng 162.200.000 đồng (một trăm sáu mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Tổng số tiền bà Nguyễn Thị Huyền T còn nợ bà tôi đối với các dây hụi nêu trên là: 320.500.000đồng (đã tính hụi lời), bà đồng ý bớt cho bà T 10.000.000 đồng tiền lãi, còn 310.500.000đồng

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới liên đới trả lại cho bà số tiền hụi 310.500.000 đồng này, không yêu cầu tính lãi.

Tại văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T trình bày:

Bà thừa nhận có làm chủ hụi, còn bà Phạm Thị L là hụi viên có tham gia các dây hụi do bà làm chủ như sau:

  • Dây hụi thứ nhất: Hụi khui ngày 20/11/2021 (âm lịch), ngày mãn hụi 20/11/2023 âm lịch, hụi 1.000.000đồng/tháng, gồm 26 phần, bà L tham gia 3 phần hụi và bà L đóng hụi sống được 25 tháng (hốt chót) thì bà úp hụi. Tổng số tiền hụi bà còn nợ bà L trong dây hụi này là: 75.000.000đồng. trừ đầu thảo (hoa hồng) còn 73.500.000 đồng, bà trả được 10.000.000 đồng, còn nợ lại 63.500.000 đồng. Nay bà cũng đồng ý trả cho bà L số tiền 63.500.000 đồng này.
  • Dây hụi thứ hai: Hụi khui ngày 05/01/2022 (âm lịch), ngày mãn hụi 05/12/2023, hụi 1.000.000đồng/tháng, gồm 26 phần, bà L tham gia 02 phần hụi. Bà L đóng hụi sống được 24 tháng thì bà úp hụi. Tổng số tiền hụi bà còn nợ bà L trong dây hụi này là: 48.000.000đồng, trừ đầu thảo 1.000.000 đồng, còn lại 47.000.000 đồng, bà trả được cho bà L 30.000.000 đồng, còn nợ dây hụi này 17.000.000 đồng. Nay bà cũng đồng ý trả cho bà L số tiền 17.000.000 đồng này.
  • Dây hụi thứ ba: Hụi khui ngày 05/01/2022 (âm lịch), ngày mãn hụi 05/01/2024 (âm lịch), hụi 5.000.000đồng/tháng, gồm 26 phần, bà L tham gia 02 phần hụi. Bà L đóng hụi sống được 24 tháng (đóng đến ngày 05/11/2023 âm lịch) thì bà úp hụi. Tổng số tiền thực tế bà L đóng cho bà là 142.540.000đ (Một trăm bốn mươi hai triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng). Nếu tính hụi lời thì tổng số tiền hụi bà L được hốt của dây hụi này là: 240.000.000đồng. Nay bà chỉ đồng ý trả cho bà L số tiền hụi thực tế bà L đã đóng là 142.540.000 đồng, không đồng ý trả lãi.

Việc bà tổ chức chơi hụi là để được hưởng tiền hoa hồng khi có hụi viên hốt hụi, mục đích chính nhằm tăng thêm thu nhập, lo cho kinh tế, cuộc sống của gia đình. Quá trình làm chủ hụi thì bà cũng bị nhiều hụi viên hốt hụi rồi không đóng, hiện bà cũng đang thiếu nợ rất nhiều và hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bà xin được trả dần, mỗi tháng trả 1000.000 đồng cho đến khi trả hoàn tất các số tiền nêu trên.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách quyết định:

Căn cứ các Điều 471, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 15, 18, 21, 22, 23, 25 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 02 năm 2019 về họ, hụi, bêu, phường;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L đối với bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ về việc “Tranh chấp hụi”.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị L số tiền hụi là 282.892.000đ (Hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm chín mươi hai nghìn đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 18/6/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách theo hướng bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị L.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Huyền T có đơn xin xét xử vắng mặt và không có ý kiến về nội dung kháng cáo. Nguyên đơn bà Phạm Thị L không đồng ý kháng cáo của bà T và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Các bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Kháng cáo của phía bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Huyền T. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

  1. Bà T thừa nhận bà L có tham gia chơi hụi do bà T làm chủ hụi, sự thừa nhận của bà T là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
    1. Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa cấp sơ thẩm bà L thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Bà L chỉ yêu cầu bà T và ông Đ liên đới trả số tiền hụi còn nợ bà là 310.500.000 đồng chứ không phải 373.000.000 đồng (bao gồm cả tiền gốc và lãi) như đơn khởi kiện ban đầu. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận.
    2. Việc bà T làm chủ hụi, còn bà L là hụi viên, bà L có tham gia chơi 03 dây hụi do bà T làm chủ hụi nêu trên là có thật, được cả hai thừa nhận. Bị đơn bà T cũng thừa nhận còn nợ bà L số tiền hụi của dây hụi thứ nhất (khui ngày 20/11/2021 (âm lịch) là 63.500.000 đồng), của dây hụi thứ hai (Hụi khui ngày 05/01/2022 (âm lịch) là 17.000.000 đồng), tổng cộng 80.500.000 đồng và đồng ý trả cho bà L số tiền này. Xét thấy sự thừa nhận này là bà T tự nguyện cho nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Do đó có căn cứ buộc bà T phải có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền của hai dây hụi này là 80.500.000 đồng.
    3. Dây hụi, giá trị của dây hụi và số phần hụi mà nguyên đơn bà L tham gia và có xảy ra tranh chấp là dây hụi khui ngày 05/01/2022 (âm lịch), ngày mãn hụi 05/01/2024 (âm lịch), hụi 5.000.000đồng/tháng, gồm 26 phần, bà L tham gia 02 phần hụi, bà L đóng hụi sống được 24 tháng (đóng đến ngày 05/11/2023 âm lịch). Tuy nhiên, về số tiền hụi thực tế (tiền gốc) thì bà L cho rằng đã đóng là 162.200.000 đồng, còn bà T chỉ thừa nhận có 142.540.000 đồng. Xét thấy, việc bà L cho rằng bà đã đóng 162.200.000 đồng nhưng bà không có chứng cứ gì chứng minh nên không có cơ sở xem xét. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà T còn nợ bà L số tiền gốc là 142.540.000 đồng là phù hợp nên được chấp nhận.
  2. Về tiền lãi: Bà L và bà T đều thống nhất số tiền hụi nếu tính cả gốc và lãi của dây hụi thứ ba này là 240.000.000 đồng. Bà L đồng ý giảm 10.000.000 đồng tiền lại, yêu cầu bà T phải trả cho bà cả tiền gốc và lãi là 230.000.000 đồng, còn bà T chỉ đồng ý trả gốc, không đồng ý trả lãi. Xét thấy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015, thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm (tương đương 1,66%/tháng). Trường hợp lãi suất vượt quá mức lãi suất giới hạn được quy định thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu

lực. Do đó, số tiền lãi của dây hụi này nếu tính theo quy định là 56.788.000 đồng, trong khi số tiền lãi bà L yêu cầu là 87.460.000 đồng là vượt quá mức lãi suất giới hạn (số tiền vượt là 30.672.000 đồng). Vì vậy, yêu cầu về tiền lãi của bà L trong dây hụi này được xem xét chấp nhận một phần với số tiền là 56.788.000 đồng. Như vậy, tổng số gốc và lãi của dây hụi này bà T phải có nghĩa vụ trả bà L là 194.328.000 đồng (sau khi khấu trừ tiền hoa hồng là 5000.000 đồng). Ngoài ra, ngày mãn hụi là ngày 05/01/2024 nhưng bà T không giao tiền hụi cho bà L là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi (họ) nên phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015, với số tiền lãi là 8.064.000 đồng (194.328.000 đồng x 0,83%/năm x 05 tháng).

Như vậy, tổng số tiền hụi của ba dây hụi bà T phải có nghĩ vụ trả cho bà L là 282.892.000 (Hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm chín mươi hai nghìn đồng).

  1. Về trách nhiệm liên đới của ông Phan Văn Đ (chồng bà T): Xét thấy, việc bà T làm chủ hụi là để được hưởng tiền hoa hồng khi có hụi viên hốt hụi, mục đích nhằm tăng thêm thu nhập, lo cho kinh tế, cuộc sống của gia đình, đồng thời sự việc này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa bà T với ông Đ. Do đó, căn cứ Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, buộc ông Đ có trách nhiệm liên đới cùng với bà T trả cho bà L số tiền 282.892.000 đồng này.
  2. Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T, nhận thấy:
    1. Tại phiên tòa phúc thẩm bà T có đơn xin xét xử vắng mặt và không có thay đổi nội dung kháng cáo “đề nghị cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn” tuy nhiên bà T không có cung cấp chứng cứ hay trình bày để bảo vệ nội dung kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào những lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm. Cụ thể: bà T thừa nhận số chân hụi bà L tham gia, số phần hụi và thời gian đóng hụi phù hợp với lời trình bày của bà L. Tuy nhiên, các dây hụi trên là hụi có lãi. Do đó, thành viên tham gia hụi đã hốt hụi thì có nghĩa vụ trả lãi cho các thành viên chưa hốt hụi. Còn bà T là chủ hụi đứng ra tổ chức, quản lý dây hụi, có nghĩa vụ thu các phần hụi và giao các phần hụi đó cho thành viên được lĩnh hụi trong mỗi kỳ mở hụi cho tới khi kết thúc dây hụi. Mặc dù hiện nay bà T không còn tổ chức hụi tiếp tục nhưng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của chủ hụi như nhận định nêu trên. bà L tham gia đóng hụi nhưng chưa hốt hụi nên bà T phải có nghĩa vụ gom hụi của các thành viên đã hốt hụi để giao hụi lại cho bà L với số tiền hụi mà bà L yêu cầu của mỗi dây hụi nêu trên là phù hợp. Việc bà T kháng cáo thỏa thuận trả lại số tiền hụi gốc đối với dây hụi khui ngày 05/01/2022 (âm lịch), ngày mãn hụi 05/01/2024 (âm lịch), hụi 5.000.000đồng/tháng là 142.540.000 đồng mà bà L đã đóng nhưng không được sự chấp nhận của bà L. Quá trình giải quyết vụ án, chồng bà T là ông Phan Văn Đ đồng ý liên đới cùng bà T trả nợ cho bà L. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc bà T và ông Đ phải có trách nhiệm liên

đới trả cho bà L số tiền nợ hụi 282.892.000 (Hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm chín mươi hai nghìn đồng) là có căn cứ.

  1. Bà T kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm nên kháng cáo của bà T là không có căn cứ để chấp nhận.
  2. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  3. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DSST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
  4. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DSST ngày 04/6/2024 Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ các Điều 471, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 15, 18, 21, 22, 23, 25 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 02 năm 2019 về họ, hụi, bêu, phường;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L đối với bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ về việc “Tranh chấp hụi”.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị L số tiền hụi là 282.892.000₫ (Hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm chín mươi hai nghìn đồng).
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  5. Bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới chịu là 14.144.600₫ (Mười bốn triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm đồng).

Bà Phạm Thị L phải chịu là 1.380.400đ (Một triệu ba trăm tám mươi nghìn bốn trăm đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.325.000₫ (Chín triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001435 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Hoàn trả lại cho bà Phạm Thị L số tiền tạm ứng án phí còn lại là 7.944.600₫ (Bảy triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm đồng).

  1. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000999 ngày 03/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Bà T đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Hồng Phạm Thị Thu Trang

Nguyễn Hữu Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 454/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 454/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger