Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4539/2024/KDTM-ST

Ngày: 23/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Nguyễn Thị Hương
  • 2/ Ông Huỳnh Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh N – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 475/2023/TLST– KDTM ngày 23 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6164/QĐST-KDTM ngày 31 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 7402/QÐST-KDTM ngày 30/8/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH T

Trụ sở: 117A, tổ B, ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim C (có mặt).

Người đại diện ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc D (vắng mặt có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 117A, tổ 2A, ấp 06, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

2. Bị đơn: Công ty TNHH MTV D2

Trụ sở: Số A Đường số E, Khu nhà ở V, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đức L, sinh năm 1974.

Thường trú: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.(vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng trình bày như sau:

Ngày 09 tháng 01 năm 2022, Công ty TNHH T và Công ty TNHH MTV D2 có ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa số: 001/2022/HĐMB với nội dung như sau: Công ty TNHH MTV D2 đồng ý bán cho Công ty TNHH T là dịch đạm cá số lượng 18.000kg, Mgso4 số lượng 20.000 kg; Znso4.7H20 số lượng 8.000kg, tinh bột bắp số lượng 18.000kg; Dextrose số lượng 21.000 kg; Kaki humate số lượng 21.000kg. Tổng giá trị: 1.746.900.000₫ (Một tỷ bảy trăm bốn mươi sáu triệu chín trăm nghìn đồng).

Thực hiện hợp đồng, ngay sau khi ký kết hợp đồng Công ty T đã thanh toán Công Ty TNHH MTV D2 số tiền lần 1 là: 894.700.000₫ (Tám trăm chín mươi tư triệu bảy trăm nghìn đồng).

Theo Điều 4 của Hợp đồng thì sau khi nhận đủ 50% giá trị hợp đồng lần 1 thì bên A có nghĩa vụ giao toàn bộ hàng hóa đến kho của Bên B trong thời hạn 45 - 60 ngày kể từ ngày nhận được tiền. Tuy nhiên, sau khi Công Ty TNHH MTV D2 nhận đủ tiền thì không có bất kỳ văn bản thông báo, hành động nào về việc tiến hành giao hàng đến kho cho Công ty T. Quá thời hạn nêu trên, Thủy K đã có rất nhiều công văn, thông báo yêu cầu Công Ty TNHH MTV D2 thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo đúng tiến độ, thời hạn đã thỏa thuận. Tuy nhiên phía Công Ty TNHH MTV D2 không thực hiện theo hợp đồng.

Do Công Ty TNHH MTV D2 vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án:

Buộc Công Ty TNHH MTV D2 có nghĩa vụ thanh toán cho Công Ty TNHH T tổng số tiền là: 966.276.000đ (Chín trăm sáu mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), trong đó bao gồm: Số tiền mà Bên B đã thanh toán đợt 1 là: 894.700.000đ, tiền phạt vi phạm hợp đồng: 71.576.000đ, yêu cầu thanh toán 01 lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn Công ty TNHH MTV D2 và người đại diện theo pháp luật, đã được toà án tống đạt hợp lệ các thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà và giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do.

3. Tại phiên tòa:

* Bà Nguyễn Thị Kim C là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn trình bày ý kiến:

Buộc Công Ty TNHH MTV D2 có nghĩa vụ thanh toán cho Công Ty TNHH T tổng số tiền là: 943.326.000 đồng, trong đó bao gồm: Số tiền mà Bên B đã thanh toán đợt 1 là: 873.450.000 đồng, tiền phạt vi phạm hợp đồng: 69.876.000 đồng, yêu cầu thanh toán 01 lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn đưa vụ án ra xét xử.

Về nội dung:

- Yêu câu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một yêu câu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Công Ty TNHH T khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV D2 thanh toán tiền mua hàng còn thiếu theo các hợp đồng mua bán hàng hóa đã ký kết nên đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ trụ sở tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Xét hợp đồng mua bán hàng hóa số 001/2022/HĐMB ngày 09/01/2022 được ký kết trên cơ sở tự tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hợp đồng được lập bằng văn bản có chữ ký của đại diện hợp pháp và đóng dấu của các bên, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật, nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc trách nhiệm các bên phải thực hiện.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán khoản nợ gốc cuả Hợp đồng mua bán hàng hóa đã được ký là 873.450.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: hợp đồng mua bán hàng hóa số 001/2022/HĐMB ngày 09/01/2022 có cơ sở xác định giữa Công Ty TNHH T và Công ty TNHH MTV D2 có ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với nội dung Công ty TNHH MTV D2 cung cấp dịch đạm cá Mgso4; Znso4.7H20, tinh bột bắp; D1; Kaki humate với tổng giá trị là 1.746.900.000 đồng (Một tỷ bảy trăm bốn mươi sáu triệu chín trăm nghìn đồng).

Theo Điều 3 của hợp đồng “Bên B sẽ thanh toán cho bên A làm 02 lần: Lần 1: Đặt cọc 50% tổng giá trị hợp đồng ngay sau khi hai bên ký kết hợp đồng. Lần 2: 50% giá trị còn lại, sau 30 ngày kể từ ngày Bên B nhận được hàng tại kho của Bên B”. Thực hiện hợp đồng Công Ty TNHH T đã thanh toán cho Công ty TNHH MTV D2 số tiền lần 1 là: 873.450.000 đồng (theo giấy báo nợ ngày 26/01/2022 và kế ước nhận nợ ngày 10/11/2021.

Theo Điều 4 của Hợp đồng thì sau khi nhận đủ 50% giá trị hợp đồng lần 1 thì bên A có nghĩa vụ giao toàn bộ hàng hóa đến kho của Bên B trong thời hạn 45 -60 ngày kể từ ngày nhận được tiền. Nhưng đến thời điểm hiện nay Công ty TNHH MTV D2 vẫn không thực hiện giao hàng cho Công Ty TNHH T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn để làm rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng phía bị đơn đều vắng mặt, không cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu khác thể hiện đã thực hiện thanh toán đầy đủ cho nguyên đơn. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn thanh toán tiền mua hàng hoá là có cơ sở. Căn cứ Điều 50 của Luật Thương mại năm 2005 bị đơn có nghĩa vụ thanh toán số tiền mua hàng hoá còn thiếu cho nguyên đơn, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có cơ sở chấp nhận yêu cầu nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc còn lại là 873.450.000 đồng.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc trả vi phạm hợp đồng:

Công Ty TNHH T yêu cầu Công ty TNHH MTV D2 phải thanh toán số tiền phạt vi phạm hợp đồng là 69.876.000 đồng

Tại Điều 8 của Hợp đồng quy định: “nếu bên bán không giao hàng đúng quy định tại hợp đồng thì sẽ bị phạt số tiền là 0.05% tổng giá trị hợp đồng cho một ngày vi phạm”. Tuy nhiên Công Ty TNHH T chỉ yêu cầu Công ty TNHH MTV D2 thanh toán 8% giá trị của hợp đồng là phù hợp với điều 300, 301 Luật kinh doanh thương mại. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Công ty TNHH MTV D2 phải thanh toán số tiền phạt vi phạm hợp đồng là 69.876.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công Ty TNHH T buộc Công ty TNHH MTV D2 phải thanh toán số tiền nợ gốc là 873.450.000 đồng và tiền phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là 69.876.000 đồng.

[5] Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147; Điều 207; Điều 244; Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào các Điều 24, Điều 50, Điều 300, Điều 301 Luật Thương mại;

- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty TNHH T:

Công ty TNHH MTV D2 có trách nhiệm trả cho Công Ty TNHH T số tiền là 943.326.000 (chín trăm bốn mươi ba triệu ba trăm hai mươi sáu nghìn) đồng, trong đó nợ gốc là 873.450.000 đồng và tiền phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là 69.876.000 đồng

Kể từ ngày Công ty TNHH T có đơn yêu cầu thi hành Công ty TNHH MTV D2 chưa thanh toán thì còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Thực hiện tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền

2. Về án phí:

- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 40.299.780 (bốn mươi triệu hai trăm chín mươi chín nghìn bảy trăm tám mươi) đồng Công ty TNHH MTV D2 phải chịu, Công ty TNHH MTV D2 chưa nộp tiền án phí.

Công Ty TNHH T được nhận lại tiền tạm ứng án phí 20.494.140 (hai mươi triệu bốn trăm chín mươi bốn nghìn một trăm bốn mươi) đồng theo Biên lai thu số AA/2023/0000800 ngày 22/11/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điêu 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyên thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điêu 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Thủ Đức
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4539/2024/KDTM-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 4539/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger