|
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 453/2025/HS-PT
Ngày 29/10/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hoa;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Cường;
Ông Ngô Quang Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng T, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử số IV – Trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần: Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số 382/2025/TLPT-HS, ngày 01 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Thị L bị xét xử về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2025/HS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
* Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo: Phạm Thị L; tên gọi khác: Không; sinh năm 1989, tại: tỉnh Thái Bình (nay là: tỉnh Hưng Yên); giới tính: Nữ; hộ khẩu thường trú: thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên (Trước là: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phạm Văn C; Con bà: Phạm Thị T1; chồng: Trần Lực (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 89/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên) tuyên phạt 03 năm tù về tội Đánh bạc.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/12/2024. Hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh H. Có mặt
* Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định: Ông Đinh Đức D – Luật sưu Công ty L4 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
* Người bị hại có kháng cáo: Anh Nguyễn Thanh S; sinh năm 1981; Trú tại: Ấp X, xã H, tỉnh An Giang (Trước là: Ấp X, xã H, huyện G, tỉnh An Giang). Có mặt
* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho anh S: Ông Nguyễn Thành T2 – Luật sư Công ty L5 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:
Tháng 4/2023, anh Nguyễn Thanh S (sinh năm 1981, trú tại ấp X, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nay thuộc tỉnh An Giang) quen biết và nảy sinh quan hệ tình cảm với bị cáo Phạm Thị L (sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (Nay là thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên). Tháng 7/2023, L trở về sinh sống tại địa phương nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với anh S.
Ngày 02/10/2023, L bị khởi tố về tội “Đánh bạc”. Lợi dụng tình cảm và lòng tin của anh S, trong khoảng thời gian từ tháng 02/2024 đến ngày 08/8/2024, L nhiều lần đưa ra các thông tin gian dối như: cần tiền “chạy án”, cần tiền “chuộc thân” do bị đưa ra nước ngoài làm gái mại dâm, hoặc cần chi phí làm thủ tục về nước. Tin tưởng, anh S đã nhiều lần chuyển tiền cho Liên thông Q các tài khoản do L cung cấp. Sau khi nhận được tiền, L sử dụng để trả nợ, chi tiêu cá nhân, tham gia chứng khoán, tiền ảo và đánh bạc qua mạng internet.
Các lần chiếm đoạt cụ thể:
Giai đoạn 1 (từ ngày 08/02/2024 đến ngày 10/4/2024):
Anh Nguyễn Thanh S đã 26 lần chuyển khoản với tổng số tiền 1.307.880.000 (Một tỷ ba trăm linh bảy triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) đến các tài khoản mang tên Nguyễn Xuân D1, Nguyễn Hữu T3, Nguyễn Thị T4, Hoàng Xuân N, Bùi Thị N1, Nguyễn Kiều O, Bùi Công H. Nội dung các giao dịch đều thể hiện “chuộc L về Việt Nam”, “cứu L về Việt Nam”.
Giai đoạn 2 (từ ngày 15/4/2024 đến ngày 16/4/2024):
Anh S 04 lần chuyển khoản với tổng số tiền 255.100.000₫ (Hai trăm năm mươi lăm triệu một trăm nghìn đồng) đến các tài khoản mang tên Hoàng Thị Lệ H1, Hoàng Diệu L1, Nguyễn Thị Thùy L2, Đinh Thị N2 theo nội dung “chuyển tiền trả nợ cho L”, “chuyển tiền làm giấy tờ về nước”.
Giai đoạn 3 (từ ngày 06/5/2024 đến ngày 05/8/2024):
Anh S 31 lần chuyển khoản với tổng số tiền 694.900.000đ (Sáu trăm chín mươi tư triệu chín trăm nghìn đồng) đến các tài khoản mang tên Nguyễn Văn M, Vũ Bá V, Trịnh Công Q1, Bùi Thị H2, Lê Khắc H3, Nguyễn Thị Thùy L2, Đào Hồng N3, Nguyễn Thị Bích P, Phạm Đình T5, Tống Văn B. Nội dung giao dịch ghi “chuyển tiền trả cho L”, “chuyển tiền mua vé máy bay”, “chuyển tiền làm giấy tờ".
Giai đoạn 4 (từ ngày 06/8/2024 đến ngày 08/8/2024):
Liên tiếp tục bịa đặt việc “tìm đường về Việt Nam bằng tàu”, yêu cầu tiền ăn uống, chi phí lo lót. Anh S đã chuyển thêm 45.000.000₫ (Bốn mươi lăm triệu đồng) vào các tài khoản mang tên Nguyễn Tuấn L3, Tống Văn B, Đỗ Quốc T6.
Tổng cộng trong 04 giai đoạn, bị cáo Phạm Thị L đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Thanh S số tiền 2.302.880.000₫ (Hai tỷ ba trăm linh hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thanh S yêu cầu bị cáo hoàn trả toàn bộ số tiền 2.302.880.000 đồng đã chiếm đoạt.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại di động OPPO K9x, màu tím, số IMEI 861576067940657 và 861576067940640, là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội. Vật chứng đã được chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
Về các vấn đề khác liên quan: Những chủ tài khoản ngân hàng mà L nhờ nhận tiền (Hoàng Xuân N, Nguyễn Văn M, Bùi Thị H2, Lê Khắc H3, Đào H, Bùi Thị N1, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Hữu T3, Nguyễn Xuân D1) đều khai không biết việc L lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chỉ được nhờ nhận hộ tiền. Cơ quan điều tra xác định họ không đồng phạm nên không xử lý hình sự.
Đối với các tài khoản L dùng để trả nợ cá nhân, nạp tiền chứng khoán, tiền ảo, cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh xử lý.
Hành vi đánh bạc trực tuyến của L bằng tiền chiếm đoạt đã được xét xử tại Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng (nay là TAND khu vực 7 – tỉnh Hưng Yên), xử phạt 03 năm tù.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 106/2025/HS-ST, ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị L 13 (Mười ba) năm 06 (S1) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – tỉnh Hưng Yên), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 16 (Mười sáu) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 468; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Phạm Thị L phải trả lại cho anh Nguyễn Thanh S số tiền đã chiếm đoạt là 2.302.880.000 đồng (Hai tỷ ba trăm linh hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên lãi suất quá hạn, xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 19/8/2025, bị cáo Phạm Thị L kháng cáo bản án sơ thẩm, xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 25/9/2025, bị cáo Phạm Thị L có Đơn xin rút đơn kháng cáo.
Ngày 18/8/2025, bị hại Nguyễn Thanh S kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phạm Thị L xác định việc rút kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện.
Bị hại Nguyễn Thanh S giữ nguyên nội dung kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt và tăng mức bồi thường đối với bị cáo. Lý do, đến nay bị cáo cũng không bồi thường cho bị hại số tiền nào. Bị hại cũng thừa nhận số tiền, số lần bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của bị hại 2.302.880.000 đồng như bản án sơ thẩm xác định là đúng, nhưng chưa đủ vì trước đó bị hại còn chuyển cho bị cáo nhiều lần nữa.
Luật sư bảo về quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại có ý kiến: Yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo. Lý do, bị hại xác định số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Thanh S hơn 6 tỷ chứ không phải hơn 2 tỷ như bản án sơ thẩm xác định. Số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại theo quyết định của bản án sơ thẩm thì bị cáo cũng chưa bồi thường được cho bị hại đồng nào. Vì bị cáo chiếm đoạt tiền của bị hại nên gia đình bị hại tan nát. Bản án sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết tăng nặng “Có tính chất chuyên nghiệp” đối với bị cáo.
Tại phần tranh luận bị hại và Luật sư có ý kiến đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.
Bị cáo có ý kiến: Bị cáo không đồng ý với ý kiến cho rằng bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của anh S hơn 6 tỷ. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai khi chiếm đoạt của bị hại 2.302.880.000 đồng, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 13 năm 6 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo chấp nhận. Bị cáo cũng muốn bồi thường cho anh S, xin anh S cho bị cáo bồi thường dần nhưng anh S không đồng ý. Hiện nay bị cáo không có tài sản gì, chồng đã ly hôn, hai con còn nhỏ nên không ai giúp bị cáo bồi thường cho anh S được và bị cáo cũng không bồi thường được cho anh S.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội:
- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ quy định của pháp luật. Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, hình thức nội dung phù hợp nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung:
Bị cáo Phạm Thị L rút kháng cáo tự nguyện, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa thấy Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Thị L về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 4 Điều 174 và xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng điểm g khoản 1 Điều 52; tình tiết giảm nhẹ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 13 (Mười ba) năm 06 (S1) tháng tù là có căn cứ, đúng quy định. Không có căn cứ tăng nặng hình phạt đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại như Bản án sơ thẩm xác định là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Kháng cáo của bị cáo PHạm Thị L, của bị hại Nguyễn Thanh S trong hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp, đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
* Về nội dung:
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xác định việc rút kháng cáo là tự nguyện. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Phạm Thị L.
[4] Xét kháng cáo của bị hại Nguyễn Thanh S yêu cầu tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[5] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, với các chứng từ sao kê chuyển khoản ngân hàng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận:
[6] Trong giai đoạn từ 08/02/2024 đến 08/8/2024, bị cáo Phạm Thị L nhiều lần đưa ra thông tin gian dối làm cho anh Nguyễn Thanh S tin tưởng nhiều lần chuyển tiền cho bị cáo. Tổng cộng, bị cáo đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Thanh S số tiền 2.302.880.000 đồng. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt bị cáo sử dụng chi tiêu cá nhân, trả nợ, chơi chứng khoán, mua tiền ảo, đánh bạc trên mạng Internet hết.
[7] Như vậy, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị hại 2.302.880.000 đồng, trong khi bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do vậy, Bản án sơ thẩm xét xử, tuyên bố bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[8] Xét kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Phạm Thị L, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi quyết định hình phạt, Bản án sơ thẩm đã xem xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, Bị cáo đã nhiều lần lợi dụng tình cảm và lòng tin của bị hại để đưa ra những thông tin gian dối, làm cho bị hại tin tưởng để chiếm đoạt số tiền lớn, hậu quả gây ra là rất nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Về tỉnh tiết tăng nặng, bị cáo phải chịu là “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo được hưởng là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bác ruột là liệt sĩ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Trước đó, ngày 30/8/2024, bị cáo đã bị TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (nay là TAND khu vực 7 tỉnh Hưng Yên) xử phạt về tội “Đánh bạc”. Tại phiên tòa phúc thẩm Luật sư đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng “Có tính chất chuyên nghiệp” là không phù hợp. Xét thấy, Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 13 năm 6 tháng tù là có căn cứ, đúng quy định, tương xưng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo không có căn cứ chấp nhận.
[9] Xét kháng cáo của bị hại Nguyễn Thanh S yêu cầu tăng mức bồi thường đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy:
[10] Bị hại xác định ngoài số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại bị truy tố, xét xử 2.302.880.000 đồng, thì trước đó bị hại còn xác định cho bị cáo vay khoảng 2.500.000.000 đồng, nhưng bị hại không đề nghị xử lý về hình sự, bản thân bị hại cũng tự nguyện cho bị cáo L vay, bị cáo L có nói dối hay không thì bị hại không rõ, nhưng đề nghị được trả lại (BL 1586).
[11] Bị cáo L trình bày ngoài số tiền chiếm đoạt của bị hại từ ngày 08/02/2024 đến ngày 08/8/2024 là 2.302.880.000 bị truy tố xét xử thì trước đó: Từ ngày 23/8/2023 đến 17/10/2023 anh S có chuyển khoản cho L 781.786.000 đồng; Từ ngày 18/10/2023 đến ngày 05/02/2024 anh S chuyển khoản đến số tài khoản của bà Phạm Thị T1 (mẹ bị cáo) do bị cáo quản lý, sử dụng 74 lần, tổng số tiền 1.367.622.000 đồng; Từ ngày 09/11/2023 đến ngày 29/12/2023 chị Phạm Thị Ánh T7 (Vợ bị hại S) chuyển đến tài khoản của bà Phạm Thị T1 (mẹ bị cáo L) 11 lần, tổng 380.200.000 đồng. Tổng trước ngày 08/02/2024 anh S và vợ chuyển cho bị cáo qua số tài khoản của bị cáo và mẹ bị cáo là 2.529.608.000 đồng. Bị cáo cũng chuyển lại cho anh S từ tài khoản của bị cáo, của bà T1 và tài khoản của người khác sang tài khoản của anh S và vợ anh S là chị T7 tổng 602.930.000 đồng (BL 1617-1643). Ngày 28/11/2023, L có viết một giấy xác nhận vay anh S số tiền 1.800.000.000 đồng. Bị cáo xác định không gian dối chiếm đoạt số tiền trên. Cơ quan điều tra không quy kết bị cáo chiếm đoạt số tiền này, không đề nghị truy tố, Viện kiểm sát không truy tố. Bản án sơ thẩm không giải quyết số tiền này. Tại phiên tòa phúc thẩm, phần tranh luận anh S có ý kiến đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm đối với phần trách nhiệm dân sự.
[12] Đề nghị của vị đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội là có căn cứ phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[13] Về án phí: Bị cáo Phạm Thị L, bị hại Nguyễn Thanh S không phải chịu án án hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 348; điểm đ, a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Phạm Thị L
2. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thanh S; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2025/HS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình (Nay là Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên):
- Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị L 13 (Mười ba) năm 06 (S1) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – tỉnh Hưng Yên), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 16 (Mười sáu) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2024.
-. Về trách nhiệm dân sự
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 468; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Phạm Thị L phải trả lại cho anh Nguyễn Thanh S số tiền đã chiếm đoạt là 2.302.880.000 đồng (Hai tỷ ba trăm linh hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không trả thì phải trả thêm khoản lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
2. Về án phí: Bị cáo Phạm Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị hại Nguyễn Thanh S không phải chịu án phí phúc thẩm, được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000824 ngày 27/8/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Văn Cường Ngô Quang Dũng | Nguyễn Ngọc Hoa |
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hoa |
|
|
Bản án số 453/2025/HS-PT ngày 29/10/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 453/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án hình sự
