TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 453/2024/HS-PT Ngày: 10 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Bà Lê Thuý Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 164/2024/TLPT- HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn T và các đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn T và Lê Văn M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Văn T, sinh ngày 20/11/1995 tại tỉnh Đồng Tháp. Hộ khẩu thường trú: Tổ A, ấp H, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Kp B, phường B, Thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha là Lê Văn H, sinh năm 1967 và mẹ là Phan Thị T1, sinh năm 1971; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 23/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành án xong hình phạt tù ngày 04/6/2019 tại Trại giam C1 – Bộ C2; bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 15/10/2022 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay, (có mặt).
2. Lê Văn M, sinh năm 1993 tại tỉnh Đồng Tháp. Hộ khẩu thường trú: Tổ A, ấp H, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Kp B, phường B, Thành phố T, tỉnh Bình Dương: nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha là Lê Văn H, sinh năm 1967 và mẹ là Phan Thị T1, sinh năm 1971; vợ là Sơn Thị H1, sinh năm 2002 và có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị bắt khẩn cấp, tạm giữ ngày 15/10/2022 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay, (có mặt).
- Người bào chữa:
Luật sư Nguyễn Quế A - thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, bào chữa cho bị cáo Lê Văn T (có mặt).
Luật sư Trần Thị T2 - thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, bào chữa cho bị cáo Lê Văn M (có mặt).
- Bị hại:
1. Ông Phan Gia H2, sinh ngày 06/11/2002. Trú tại: Tổ C, T, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương, (đã chết). Đại diện hợp pháp: Ông Phan Minh T3, sinh năm 1978 ( vắng mặt) và bà Lê Như T4, sinh năm 1980; cùng hộ khẩu thường trú: khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, (có mặt).
2. Ông Nguyễn Hùng L, sinh ngày 18/5/2004. Trú tại: Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, (đã chết). Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Hùng L: Bà Nguyễn Thị Ngọc H3, sinh năm 1984, địa chỉ: số A khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, (có mặt).
3. Nguyễn Văn N, sinh năm 1989. Nơi thường trú: ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; tạm trú: số H, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, (cũng là bị cáo trong vụ án), (vắng mặt).
Trong vụ án còn có bị cáo Lê Văn N1, Nguyễn Văn T5, Huỳnh Hoàng L1, Nguyễn Tài L2, Trương Kim T6, Thái Anh K, Nguyễn Quốc Anh T7, Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Trọng T8, Trần Anh V, Chu Quốc K1, Hoàng Bảo H4, Thạch Quang T9 và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, do không có kháng cáo, kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/10/2022, nhóm của Lê Văn T gồm Lê Văn T, Lê Văn M, Lê Văn N1, Huỳnh Hoàng L1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T5, Trần Mộng C, Lâm Thị K2 và một người đàn ông không rõ lai lịch đến quán B, địa chỉ đường V, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để uống bia.
Thời điểm này, tại quán B đang có 07 người khác đang ngồi uống bia gồm: Nguyễn Tài L2, Trương Kim T6, Nguyễn Hùng L, Hoàng Bảo H4, Thạch Quang T9, Trần Anh V và Phạm Quốc T10.
Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, Nguyễn Tài L2 phát sinh mâu thuẫn với nhóm của Lê Văn T nên L2 đã điện thoại cho Thái A1 Kiệt để nhờ gọi thêm người đến đánh nhau với nhóm của T. Sau khi nhận điện thoại của L2 thì K liên hệ Phan Gia H2, Nguyễn Quốc Anh T7, Nguyễn Trọng T8, Nguyễn Ngọc S và Chu Quốc K1 để hỗ trợ L2 đánh nhau thì tất cả đều đồng ý.
K1 chở K bằng xe mô tô Vario màu đen biển số 60B3-815.81, T8 chở Anh T7 trên xe mô tô SYM biển số 61C1-007.23 và S chở H2 bằng xe mô tô Vario màu trắng biển số 61E1-880.71 đi từ phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trên đường đi, H2 nhặt ở tiệm sửa xe bên đường một đoạn tuýp sắt bằng kim loại dài khoảng 01m, còn K và Anh T7 nhặt 03 cục bê tông to bằng bàn tay bên lề đường để làm hung khí đánh nhau.
Khoảng 10 phút sau, K đến trước quán B, ngay lúc đó H2 nhảy xuống xe dùng đoạn tuýp sắt đánh vào nhóm T đang ngồi nhậu, K và Anh T7 dùng các cục bê tông đang cầm trên tay để ném vào bàn nhậu. Khi bị đánh, cả nhóm T đứng dậy dùng ghế, vỏ bia hơi bằng kim loại...đuổi đánh nhóm K ra giữa đường V trước quán (còn Trần Mộng C, Lâm Thị K2 và Phạm Quốc T10 bỏ chạy trốn vào bên trong quán).
Lúc này nhóm của L2 cũng đứng dậy lấy ghế, vỏ chai bia, ly bia...để cùng đánh nhau với nhóm của Lê Văn T. T đứng dậy dùng tay phải rút ra một cây cờ-lê bằng kim loại đã mài nhọn một đầu để trong túi quần và đâm liên tiếp vào người Phan Gia H2 05 nhát và đâm L 03 nhát làm H2 và L ngã bất tỉnh tại chỗ. Khi L ngã, M lao vào dùng một cục bê tông đập vào đầu L 01 cái. Trong lúc H2 bất tỉnh, T dùng chân đá vào đầu và nhặt một vỏ bia hơi bằng kim loại đánh vào đầu H2.
Cùng thời điểm này, Nguyễn Quốc Anh T7 (nhóm của Nguyễn Tài L2) dùng một cục bê tông nhặt trước quán ném vào đầu Nguyễn Văn N, làm N té xuống đường. Lúc này Lê Văn T nghĩ N là người thuộc nhóm của Nguyễn Tài L2 nên lao vào đâm 02 cái vào người của Nguyễn Văn N. Những người còn lại bên 02 nhóm thì cầm ghế, vỏ bia hơi, ly bia, cục bê tông...để đánh nhau và không ai bị thương tích gì. Sau khi phát hiện đâm nhầm N, T cùng bạn đưa N đi cấp cứu và tất cả đều trốn khỏi hiện trường.
Quá trình điều tra thu giữ đồ vật: 01 (một) xe mô tô SYM màu đỏ, biển số 61C1-007.23; 01 (một) xe đạp điện hiệu Asama màu đỏ, đen; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vario biển số 61E1-880.71; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vario biển số 60B3-815.81; 01 (một) ống tuýp sắt; 01 (một) vỏ chai bia bằng kim loại; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo; 02 (hai) cục bê tông; 01 (một) áo sơ mi tay dài màu trắng;
* Bản Kết luận giám định số 1064/GĐPY, ngày 25/10/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh B, kết luận nguyên nhân tử vong của bị hại Phan Gia H2 như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Đa chấn thương phần mềm: nhiều vết sây sát da, tụ máu, rách da, thủng da, cơ trên cơ thể.
- Vết thương thấu ngực: vết 03 gây thủng da; thủng cơ thẳng bụng; đứt xương ức; thủng bao tim và tâm thất phải; thủng phổi phải; tràn máu khoang màng phổi phải.
- Vết thương thấu bụng: vết 02 gây thủng da, cơ thẳng bụng, cơ hoành và gan; vết 04 gây thủng da, đường trắng giữa, dạ dày; chảy máu trong ổ bụng khoảng 200ml.
2. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
* Bản Kết luận giám định số 1065/GĐPY, ngày 25/10/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh B, kết luận nguyên nhân tử vong của bị hại Nguyễn Hùng L như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Đa chấn thương phần mềm: 03 vết rách da, 05 vết thủng da, cơ và nhiếu vết sây sát, tụ máu trên cơ thể.
- Chấn thương sọ não: vỡ xương hộp sọ; dập rách nhu mô não; tụ máu nội sọ; xuất huyết dưới nhện và xuất huyết trong nhu mô não.
- Vết thương thấu ngực: thủng thành ngực trái, thủng bao tim và tâm nhĩ trái; đứt động mạch chủ lên; tràn máu khoang màng phổi và khoang màng ngoài tim.
2. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương
* Tại Bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể sống số 277/2023/KLGĐ-TTPY ngày 28/4/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B xác định tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định trên cơ thể Nguyễn Văn N như sau:
1. Các kết quả chính:
- Vết thương vùng đỉnh trái 2,3x0,2cm, sẹo lành.
- Vết thương sướt da vùng trán trái đã lành.
- 02 (hai) vết thương vùng hông lưng trái mỗi vết 1,5x0,2cm, thấu bụng, thủng thân vị, đại tràng góc lách, hồng tràng, đã phẫu thuật khâu lỗ thủng thân vị, làm hậu môn nhân tạo, hiện tại đã đóng hậu môn nhân tạo, vết mổ trên dưới rốn 16x0,9cm, vết mổ vùng bụng trái 5,5x0,8cm, sẹo lành.
2. Kết luận: tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định trên cơ thể Nguyễn Văn N là 68% (sáu mươi tám phần trăm).
Trong đó:
- Vết thương vùng đỉnh trái 2,3x0,2cm, sẹo lành. Được xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01% (một phần trăm).
- Vết thương sướt da vùng trán trái đã lành. Được xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 0% (không phần trăm).
- 02 (hai) vết thương vùng hông lưng trái mỗi vết 1,5x0,2cm, thấu bụng, thủng thân vị, đại tràng góc lách, hồng tràng, đã phẫu thuật khâu lỗ thủng thân vị, làm hậu môn nhân tạo, hiện tại đã đóng hậu môn nhân tạo, vết mổ trên dưới rốn 16x0,9cm, vết mổ vùng bụng trái 5,5x0,8cm, sẹo lành. Được xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 67% (sáu mươi bảy phần trăm).
Kết luận khác: Cơ chế hình thành vết thương.
- Vết thương vùng đỉnh trái: Chiều từ trước ra sau, hướng từ trên xuống, bờ không rõ, khả năng do vật tày gây ra.
- Vết thương sướt da vùng trán trái đã lành, không còn dấu tích nên không xác định được cơ chế.
- 02 (hai) vết thương vùng hông lưng trái mỗi vết 1,5x0,2cm, thấu bụng, thủng thân vị, đại tràng góc lách, hổng tràng: Chiều chếch xuống khoảng 300 từ phải sang trái, hướng từ sau ra trước, bờ tương đối gọn, khả năng do vật nhọn hoặc vật sắc nhọn gây ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2023/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, quyết định:
1/ Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T, Lê Văn M phạm tội “Giết người”. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn N1, Nguyễn Văn T5, Huỳnh Hoàng L1, Nguyễn Tài L2, Trương Kim T6, Thái Anh K, Nguyễn Quốc Anh T7, Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Trọng T8, Nguyễn Văn N, Trần Anh V, Chu Quốc K1, Hoàng Bảo H4, Thạch Quang T9 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Văn T “Tử hình” về tội “Giết người”. Tiếp tục giam bị cáo Lê Văn T để đảm bảo thi hành án. Nếu bị cáo không kháng cáo, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn lên Chủ tịch N2 xin ân giảm án tử hình.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Văn M 16 năm tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 15/10/2022. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hoàng L1 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ vào thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2022 đến ngày 13/3/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tài L2 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2022 đến ngày 18/01/2023.
Xử phạt bị cáo Thái Anh K 01 năm 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2022 đến ngày 18/01/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trương Kim T6 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2022 đến ngày 13/3/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A2 T6 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2022 đến ngày 13/3/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T8 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2022 đến ngày 13/3/2023.
Xử phạt bị cáo Trần Anh V 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2022 đến ngày 13/3/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Lê Văn N1 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 4 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17 tháng 01 năm 2024).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 4 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17 tháng 01 năm 2024).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T5 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 4 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17 tháng 01 năm 2024).
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Chu Quốc K1 01 năm 6 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17 tháng 01 năm 2024).
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Hoàng Bảo H4 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17 tháng 01 năm 2024).
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Thạch Quang T9 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17 tháng 01 năm 2024).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/01/2024 các bị cáo Lê Văn M và Lê Văn T có đơn kháng cáo yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị cáo và người bào chữa yêu cầu xem xét giảm án cho bị cáo vì án sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Văn T hình phạt Tử hình và bị cáo Lê Văn M 16 năm tù là nghiêm khắc, các bị cáo phạm tội có phần lỗi của bị hại, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục một phần hậu quả và tự nguyện bồi thường tiền theo yêu cầu của phía bị hại nên phía bị hại có đơn yêu cầu giảm án cho các bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, mẹ bị hại Phan Gia H2 và mẹ bị hại Nguyễn Hùng L tiếp tục có đơn xin bãi nại và tại phiên toà vẫn yêu cầu giảm án cho các bị cáo.
- Bà Lê Như T4 mẹ bị hại Phan Gia H2 và bà Nguyễn Thị Ngọc H3 là mẹ của bị hại Nguyễn Hùng L xác định: Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình của các bị cáo có đến khắc phục thêm hậu quả nhưng do gia đình các bị cáo khó khăn về kinh tế nên không nhận thêm tiền bồi thường và có tiếp tục làm đơn bãi nại cho bị cáo, việc bãi nại và xin giảm án cho các bị cáo là tự nguyện vì khi điều tra biết được các bị hại có lỗi khi đánh các bị cáo trước và yêu cầu không áp dụng hình phạt Tử hình đối với bị cáo T.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, nội dung kháng cáo. Đề nghị: Mặc dù tại phiên toà hôm nay, mẹ các bị hại có yêu cầu giảm án cho bị cáo Lê Văn T nhưng bị cáo phạm tội với nhiều tình tiết định khung nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T; đối với bị cáo Lê Văn M đề nghị giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/10/2022, nhóm của bị cáo Lê Văn T gồm Lê Văn T, Lê Văn M, Lê Văn N1, Huỳnh Hoàng L1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T5, Trần Mộng C, Lâm Thị K2 và một người đàn ông không rõ lai lịch đến quán B, địa chỉ đường V, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để uống bia. Thời điểm này, tại quán B đang có 07 người khác đang ngồi uống bia gồm: Nguyễn Tài L2, Trương Kim T6, Nguyễn Hùng L, Hoàng Bảo H4, Thạch Quang T9, Trần Anh V và Phạm Quốc T10.
Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, bị cáo Nguyễn Tài L2 phát sinh mâu thuẫn với nhóm của Lê Văn T nên L2 đã điện thoại cho Thái A1 Kiệt để nhờ gọi thêm người đến đánh nhau với nhóm của bị cáo T. Sau khi nhận điện thoại của L2 thì K liên hệ Phan Gia H2, Nguyễn Quốc Anh T7, Nguyễn Trọng T8, Nguyễn Ngọc S và Chu Quốc K1 để hỗ trợ L2 đánh nhau thì tất cả đều đồng ý.
K1 chở K bằng xe mô tô Vario màu đen biển số 60B3-815.81, T8 chở Anh T7 trên xe mô tô SYM biển số 61C1-007.23 và S chở H2 bằng xe mô tô Vario màu trắng biển số 61E1-880.71 đi từ phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trên đường đi, H2 nhặt ở tiệm sửa xe bên đường một đoạn tuýp sắt bằng kim loại dài khoảng 01m, còn K và Anh T7 nhặt 03 cục bê tông to bằng bàn tay bên lề đường để làm hung khí đánh nhau.
Khoảng 10 phút sau, bị cáo K đến trước quán B, ngay lúc đó bị hại H2 nhảy xuống xe dùng đoạn tuýp sắt đánh vào nhóm bị cáo T đang ngồi nhậu, bị cáo K và bị cáo Anh T7 dùng các cục bê tông đang cầm trên tay để ném vào bàn nhậu. Khi bị đánh, cả nhóm bị cáo T đứng dậy dùng ghế, vỏ bia hơi bằng kim loại...đuổi đánh nhóm bị cáo K ra giữa đường V trước quán (còn Trần Mộng C, Lâm Thị K2 và Phạm Quốc T10 bỏ chạy trốn vào bên trong quán).
Lúc này nhóm của bị cáo L2 cũng đứng dậy lấy ghế, vỏ chai bia, ly bia...để cùng đánh nhau với nhóm của bị cáo Lê Văn T. Bị cáo T đứng dậy dùng tay phải rút ra một cây cờ-lê bằng kim loại đã mài nhọn một đầu để trong túi quần và đâm liên tiếp vào người bị hại Phan Gia H2 05 nhát và đâm bị hại Nguyễn Hùng L 03 nhát làm bị hại H2 và bị hại L ngã bất tỉnh tại chỗ. Khi bị hại L ngã, bị cáo M lao vào dùng một cục bê tông đập vào đầu bị hại L 01 cái. Trong lúc bị hại H2 bất tỉnh, bị cáo T dùng chân đá vào đầu và nhặt một vỏ bia hơi bằng kim loại đánh vào đầu bị hại H2.
Cùng thời điểm này, Nguyễn Quốc Anh T7 (nhóm của Nguyễn Tài L2) dùng một cục bê tông nhặt trước quán ném vào đầu Nguyễn Văn N, làm N té xuống đường. Lúc này bị cáo Lê Văn T nghĩ N là người thuộc nhóm của Nguyễn Tài L2 nên lao vào đâm 02 cái vào người của Nguyễn Văn N. Những người còn lại bên 02 nhóm thì cầm ghế, vỏ bia hơi, ly bia, cục bê tông...để đánh nhau và không ai bị thương tích gì. Sau khi phát hiện đâm nhầm N, bị cáo T cùng bạn bè đưa N đi cấp cứu và trốn khỏi hiện trường.
Như vậy, trong lúc đánh nhau đánh nhau, bị cáo Lê Văn T dùng cây cờ-lê bằng kim loại đã mài nhọn một đầu đâm bị hại Phan Gia H2 05 nhát, đâm Nguyễn Hùng L 03 nhát và đâm Nguyễn Văn N 02 nhát. Khi bị hại L té gục tại chỗ thì bị cáo Lê Văn M cầm một cục bê tông đập vào đầu bị hại L dẫn đến các bị hại H2, L chết tại chỗ, bị hại N bị thương tật 67% là có xảy ra trên thực tế nên án sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Văn T và Lê Văn M về tội giết người giết người với tình tiết định khung của bị cáo T là có tính chất côn đồ và giết 02 người trở lên, bị cáo M với tình tiết định khung có tính chất côn đồ được quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có phần lỗi của bị hại, nhưng hành vi dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu của các bị hại là nguyên nhân dẫn đến 02 người chết và 01 người bị thương tích 67% nên án sơ thẩm xử phạt hình phạt cao nhất là tử hình đối với bị cáo là tương xứng với hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, khi quyết định hình phạt cho bị cáo, cấp sơ thẩm có đã đánh giá toàn diện vụ án, có xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, có khắc phục một phần hậu quả, gia đình bị hại bãi nại cho bị cáo. Tuy nhiên, trong phần quyết định không áp dụng điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là thiếu sót nên cấp phúc thẩm cần bổ sung. Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị hại Nguyễn Hùng L và gia đình bị hại Phan Gia H2 tiếp tục có đơn bãi nại cho bị cáo nên Hội đồng xét xử có căn nhắc. Nhưng với hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng có hai tình tiết định khung là có tính chất côn đồ và giết 02 người trở lên nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất là Tử hình đối với bị cáo mới đủ tính răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội nên không chấp nhận yêu cầu giảm án của bị cáo cũng như Luật sư bào chữa cho bị cáo mà chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn M, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo M và bị cáo T là anh em ruột với nhau, tuy bị cáo M có hành vi dùng cục bê tông đập vào đầu bị hại L làm cho bị hại L bị vỡ xương hộp sọ, dập rách nhu mô não, tụ máu nội sọ, xuất huyết dưới nhện và xuất huyết trong nhu mô não nhưng đây không phải là nguyên nhân chính gây ra cái chết ngay cho bị hại. Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có khắc phục một phần thiệt hại cho các bị hại, bị cáo phạm tội có phần lỗi của bị hại, gia đình các bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nhưng khi quyết định hình phạt cho bị cáo M án sơ thẩm không áp dụng điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là thiếu sót. Do bị cáo M và T là anh em ruột, bị cáo T đã bị áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất là Tử hình nên hình phạt 16 năm đối với bị cáo M là có phần nghiêm khắc. Sau khi xét xử gia đình các bị hại tiếp tục có đơn bãi nại cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận giảm một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn T kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí, bị cáo Lê Văn M kháng cáo được chấp nhận nên không phải nộp án phí.
[5]. Các phần khác của Bản án sơ thẩm về tội danh, hình phạt của các bị cáo không kháng cáo, về bồi thường thiệt hại, về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn T; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn M. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về hình phạt của bị cáo Lê Văn M.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T và bị cáo Lê Văn M, phạm tội Giết người.
2. Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Văn T, hình phạt “Tử hình”. Tiếp tục giam bị cáo Lê Văn T để đảm bảo thi hành án. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền gửi đơn cho Chủ tịch N2 xin ân giảm án tử hình.
3. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Văn M, 14 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 15/10/2022.
4. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn M không phải nộp, bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000đ.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | ||
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | ||
| Cao Văn Tám |
Nơi nhận:
|
Bản án số 453/2024/HS-PT ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 453/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Thương
