Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4524/2024/DS – ST.

Ngày: 23/9/2024.

V/v tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - TP. HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mai Trâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn.
  2. Ông Phạm Văn Tâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hải Hoài, Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ

Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc H– Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,

thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số

853/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài

sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5680/2024/QĐXXST- DS ngày 31

tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7145/QĐST- DS ngày 26

tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Địa chỉ trụ sở chính: Lầu H, 266- B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q và khai

thác tài sản Ngân hàng S (văn bản ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày

12/10/2022)

Trụ sở: 278 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S ủy quyền lại cho

ông Nguyễn Minh T – sinh năm: 1973.

Địa chỉ: 8 đường số H, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Văn bản ủy quyền số 4744/2023/UQ-TGĐ ngày 19/12/2023).

Bị đơn: Bà Trần Thị Thụy V, sinh năm: 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số A đường T, khu phố E (khu phố B cũ), phường T, thành phố T,

Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 13 tháng 3 năm 2024 của nguyên đơn Ngân

hàng thương mại cổ phần S (viết tắt là Ngân hàng), lời khai tại Tòa án và trong

quá trình xét xử của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn

Minh T trình bày:

Ngày 28/6/2022, bà Trần Thị Thụy V có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử

dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản

Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các

tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà V, Ngân hàng

đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa 436438- 1588. Hạn mức sử dụng là 20.000.000

đồng, lãi suất trong hạn 2.4%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong

hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân. Số tiền thanh toán áp dụng theo Điều 21 của

Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng

là ưu tiên thanh toán phí lãi trước, giao dịch sau.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà V đã thực hiện các giao dịch với tổng số

tiền là 19.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt cho

đến nay, bà V không thanh toán cho Ngân hàng số tiền nào.

Do bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 06/11/2022 Ngân hàng đã

chấm dứt quyền sử dụng thẻ Visa 436438- 1588 và chuyển toàn bộ dư nợ còn

thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện

phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà V có trách nhiệm thanh toán. Tuy nhiên,

bà V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều

khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của

Ngân hàng, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị Thụy V trả

một lần cho Ngân hàng ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực toàn bộ số tiền nợ đối

với thẻ Visa 436438-1588 là 41.987.155 đồng, trong đó số tiền gốc là 22.999.043

đồng, lãi quá hạn là 18.988.112 đồng.

Và bà Trần Thị Thụy V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ

ngày 24/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn bà Trần Thị Thụy V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để đến Tòa án

giải quyết vụ kiện nhưng bà V đều vắng mặt không có lý do cũng như không gửi

cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của bà V đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do

bà V vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa

phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ

án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia

tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử

nghị án: thụ lý đúng quy định theo thẩm quyền, thời hạn đưa vụ án ra xét xử đúng,

Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng nội dung, thành phần xét xử, đúng thời gian,

địa điểm.

Về nội dung vụ án: căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ quy

định tại Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 4 và Điều

91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017) đề nghị

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về án phí bị đơn phải chịu theo quy

định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Theo nội dung Đơn khởi kiện ghi ngày 19 tháng 3

năm 2024, Ngân hàng yêu cầu bà Trần Thị Thụy V phải trả cho Ngân hàng số tiền

đã vay (gồm tiền gốc và tiền lãi quá hạn) theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng

ngày 28/6/2022. Theo địa chỉ nguyên đơn ghi trong đơn khởi kiện thì bà Trần Thị

Thụy V có hộ khẩu thường trú tại số A đường T, khu phố E (khu phố B cũ),

phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên theo kết quả xác minh

của Công an phường T, thành phố T thì bà V có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ

trên nhưng không thực tế cư trú từ năm 2022 cho đến nay, không rõ địa chỉ nơi cư

trú mới. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thông báo cho Ngân hàng cung cấp

địa chỉ mới của bà Trần Thị Thụy V và làm đơn yêu cầu đăng trên phương tiện

đại chúng nhưng Ngân hàng không cung cấp được địa chỉ mới cũng như không

đồng ý yêu cầu đăng trên phương tiện thông tin đại chúng, yêu cầu Tòa án tống

đạt tại địa chỉ bà V đăng ký thường trú và cung cấp trong hồ sơ vay do bà V thay

đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng nhưng

không thông báo cho Ngân hàng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều

35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số

04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối

cao, đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của

Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn là bà Trần Thị Thụy V đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên

tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật

tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với hợp đồng vay tài sản và nghĩa vụ

trả nợ:

Theo nội dung Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 28/6/2022, Ngân hàng

đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa 436438- 1588. Hạn mức sử dụng là 20.000.000

đồng, lãi suất trong hạn 2.4%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong

hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân. Việc hai bên thỏa thuận mức lãi suất nêu trên là

phù hợp với quy định tại Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010

(đã sửa đổi bổ sung năm 2017).

Trong quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt cho đến nay, bà V đã

thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 19.000.000 đồng. Bà V chưa thanh toán

cho Ngân hàng số tiền nào.

Do bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán, căn cứ Điều 24 của Bản Điều khoản

và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng, ngày 06/11/2022 Ngân hàng đã chấm

dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Kể từ

đó đến nay, bà V không thanh toán số tiền nợ nêu trên. Tòa án đã tống đạt Thông

báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công

khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên

tòa nhưng bà V đều vắng mặt và không gửi ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến

tranh chấp nêu trên cho Tòa án. Do đó, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc

bà Trần Thị Thụy V phải trả toàn bộ số tiền nợ đối với thẻ tín dụng Visa 436438-

1588 tính đến ngày 23/9/2024 là 41.987.155 đồng, trong đó số tiền gốc là

22.999.043 đồng, lãi quá hạn là 18.988.112 đồng. Trả một lần cho Ngân hàng

ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật là có căn cứ chấp nhận theo quy

định tại Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Trần Thị Thụy V phải chịu tiền án phí sơ

thẩm là 2.099.358 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ngân hàng không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2015;

Áp dụng Điều 463; Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm

2015;

Áp dụng Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã sửa

đổi bổ sung năm 2017);

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày

05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ

phần S, buộc bà Trần Thị Thụy V phải trả toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày

23/9/2024 theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 28/6/2022 là 41.987.155

đồng, trong đó nợ gốc 22.999.043 đồng, lãi quá hạn 18.988.112 đồng. Trả một lần

cho Ngân hàng thương mại cổ phần S ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp

luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Trần Thị Thụy V còn phải

tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức

lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản

nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc

điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần

S thì lãi suất mà bà Trần Thị Thụy V phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng

thương mại cổ phần S theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp

với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Thụy V phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 2.099.358 đồng nộp

tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí. Trả lại cho Ngân

hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 855.796 đồng theo

Biên lai thu số 0026352 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành

phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKS TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

Võ Thị Mai Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4524/2024/DS – ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4524/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger