|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 452/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05 – 12 - 2023
V/v “Tranh chấp ly hôn, con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.
-
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP . Biên Hòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 2274/2023/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 423/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/11/2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1990.
- - Bị đơn: Ông Lê Ngọc M, sinh năm 1990.
- Cùng địa chỉ: Nhà không số, tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị L trình bày:
-
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Ngọc M xây dựng gia đình với nhau vào năm 2013, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông M để trả tự do cho nhau.
-
- Về con chung: Bà và ông M có 01 con chung tên Lê Ngọc Mai K, sinh ngày 21/11/2013. Ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
-
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Bị đơn ông Lê Ngọc M có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 08 tháng 11 năm 2023 ông M trình bày:
-
- Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý với phần trình bày của bà L về quan hệ hôn nhân. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên ông đồng ý ly hôn với bà L.
-
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Mai K, sinh ngày 21/11/2013. Ly hôn ông đồng ý giao con chung cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông không cấp dưỡng nuôi con.
-
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
-
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
-
- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lê Thị L. Bà Lê Thị L được ly hôn với ông Lê Ngọc M; Về con chung: Giao con chung tên Lê Ngọc Mai K, sinh ngày 21/11/2013 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông M không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Tự thỏa thuận; về nợ chung: không có; Về án phí: Bà L phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Lê Ngọc M hiện cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo qui định tại các Điều 207; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án xét xử vắng mặt bà L và ông M.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị L và ông Lê Ngọc M xây dựng gia đình với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở cả hai tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn đoàn tụ nhưng bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và cương quyết xin ly hôn với ông M để trả tự do cho nhau. Tại bản tự khai ngày 08/11/2023, ông M cũng thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên đồng ý ly hôn. Qua kết quả xác minh tại nơi cư trú ngày 13/11/2023 thì địa phương không nắm rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng bà L và ông M. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà L và ông M là có thật, đều được các bên thừa nhận, mục đích hôn nhân không đạt được.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L, giải quyết cho bà L được ly hôn với ông M để trả tự do cả hai là phù hợp.
[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng bà L và ông M có 01 con chung tên Lê Ngọc Mai K, sinh ngày 21/11/2013. Ly hôn, các bên đều thống nhất giao con chung cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời ông M không cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự.
Ông M được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9, Điều 11, Điều 56, Điều 85, Điều 89, Điều 91, Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị L.
-
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị L được ly hôn với ông Lê Ngọc M.
-
Về con chung: Giao con chung tên Lê Ngọc Mai K, sinh ngày 21/11/2013 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông M được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
-
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không đặt ra xem xét, giải quyết.
-
Về nợ chung: Không có, không đặt ra xem xét, giải quyết.
-
Về án phí HNGĐ-ST: Bà Lê Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0009017 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa. Bà L đã nộp xong án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thúy |
Bản án số 452/2023/HNGĐ-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 452/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương - Mến
