Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 452/2024/DS-PT

Ngày 21 - 6 - 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất;

tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Công Mười

Ông Hoàng Minh Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 161/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2865/2024/QĐPT-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Xuân T, sinh năm 1974; Nơi cư trú: số C, đường S, khóm H, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
  2. Bị đơn: Ông Thái Ngọc Đ, sinh năm 1968; Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thái Ngọc Đ: Ông Phạm Minh L - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  1. Ông Khưu Văn M, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Số C, K, khóm B, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
  2. Bà Thạch Thị K, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của bà Thạch Thị K: Ông Thái Ngọc Đ, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền 06/12/2023.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thạch Thị K: Bà Thạch Thị Quất T1 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.

  1. Chị Thái Thị Bạch Y, sinh năm 2001; Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
  2. Bà Thạch Thị C, sinh năm 1967; Địa chỉ: khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
  3. Bà Thạch Thị S, sinh năm 1970; Địa chỉ: khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
  4. Anh Khưu Tuấn N, sinh năm 1990; Địa chỉ: số C, K, khóm B, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của anh Khưu Tuấn N: Ông Khưu Văn M, sinh năm 1962. Địa chỉ: số C, K, khóm B, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền ngày 24/10/2023.

  1. Anh Khưu Tuấn K1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Gartenielder S. 50 E BerLin S, Đ1.

Người đại diện hợp pháp của anh Khưu Tuấn K1: Ông Khưu Văn M, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số C, K, khóm B, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Theo văn bản ủy quyền 26/10/2023.

  1. Bà Điều Thị Trúc M1, sinh năm 1980; Địa chỉ: số C, đường S, khóm H, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của bà Điều Thị Trúc M1: Ông Trần Xuân T, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số C, đường S, khóm H, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Theo văn bản ủy quyền ngày 05/12/2023.

  1. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (xin xét xử vắng mặt).
  2. Văn Phòng C1; Địa chỉ: Số A, L, khóm A, phường C, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
  3. Văn Phòng C2; Địa chỉ: Số C, N, phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
  1. Người kháng cáo: Bị đơn ông Khưu Văn M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Xuân T trình bày:

Vào ngày 30/6/2019, ông với ông Khưu Văn M thỏa thuận ông M chuyển nhượng cho ông thửa đất 59, diện tích 3.874m2, tờ bản đồ số 44, loại đất lúa, tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh với giá 165.000.000 đồng. Ngày 02/7/2019 hai biên ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên tại Văn phòng C1. Đến ngày 05/7/2019 ông được Văn phòng Đ2 chi nhánh huyện C chỉnh trang tư cho ông được đứng tên quyền sử dụng đất thửa đất 59 trên. Đến ngày 12/7/2019 ông cùng ông M đến thửa đất để ông M giao đất cho ông thì ông Thái Ngọc Đ là chủ đất cũ đứng ra ngăn cản không cho giao đất. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Thái Ngọc Đ phải giao trả cho ông thửa đất 59, diện tích 3.874m2 trên cho ông quản lý, sử dụng. Trường hợp phải hủy hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 59 trên giữa ông với ông M, bà Nguyễn Thị H thì ông yêu cầu ông M cùng các con ông M là Khưu Tuấn K1, Khưu Tuấn N phải trả lại cho ông tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất số tiền 165.000.000 đồng và bồi thường tiền chênh lệch giá đất.

Bị đơn ông Thái Ngọc Đ trình bày:

Vào khoảng năm 2013 ông và bà Thạch Thị S, Thạch Thị C cần tiền nên ông, bà S, bà C cùng đến nhà gặp ông Khưu Văn M hỏi vay số tiền 60.000.000 đồng, phần của ông vay 35.000.000 đồng, phần của bà C vay 10.000.000 đồng, phần của bà S vay 15.000.000 đồng. Ông M đồng ý cho ông, bà C, bà S vay nhưng yêu cầu ông đứng vay số tiền 60.000.000 đồng và yêu cầu ông thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 863 (nay là thửa 59), diện tích 4.040m2, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp Thanh Trì B, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho ông M dưới hình thức chuyển nhượng thửa đất trên cho ông M, khi nào có tiền trả cho ông M thì ông M ký chuyển nhượng trả lại đất cho ông, do quá cần tiền nên ông đồng ý. Thỏa thuận lãi suất của 60.000.000 đồng là 3.600.000 đồng/tháng. Việc vay này chỉ thỏa thuận miệng không có làm biên nhận gì. Sau khi vay, ông, bà C, bà S đóng lãi được nhiều lần, số tiền cụ thể bao nhiêu ông không nhớ. Hiện nay số tiền vay 60.000.000 đồng vẫn còn thiếu ông M. Còn tờ biên nhận số tiền 90.000.0000 đồng mà ông ký nhận, số tiền này là số tiền ông M cộng vốn vay 60.000.0000 đồng và lãi 32.500.000 đồng mà ông vay trên, ông M làm biên nhận rồi kêu vợ chồng ông ký lại, số tiền đáng lẽ ra là 92.500.000 đồng nhưng ông M bớt 2.500.000 đồng lẽ, ghi 90.000.000 đồng cho chẳn. Tờ biên nhận này ông M kêu ông ký là vào năm 2017. Nay ông Trần Xuân T khởi kiện yêu cầu ông giao thửa đất 59 trên cho ông T quản lý, sử dụng ông không đồng ý vì ông không có chuyển nhượng thửa đất trên cho ông M. Ông có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên giữa vợ chồng ông với ông Khưu Văn M, giữa ông M với ông Trần Xuân T; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông M, ông T đối với thửa đất trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Khưu Văn M trình bày:

Vào năm 2013 ông có nhận chuyển nhượng của ông Thái Ngọc Đ thửa đất 59 (trước đây là thửa 863), diện tích 3.874m2, tờ bản đồ số 44, loại đất lúa, tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh với giá 60.000.000 đồng. Từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay ông không có canh tác mà để cho ông Đ canh tác do không có nhu cầu sử dụng. Đến năm 2019 ông chuyển nhượng lại thửa đất trên cho ông Trần Xuân T với giá 165.000.000 đồng. Việc ông Thái Ngọc Đ cho rằng vào năm 2013 vay của ông 60.000.000 đồng và thế chấp thửa đất 863 dưới hình thức chuyển nhượng cho ông là không có. Trước đây vào năm 2014 ông có cho ông Đ vay 90.000.000 đồng nhưng số tiền vay này ông Đ đã trả cho ông rồi. Ông yêu cầu ông Thái Ngọc Đ giao đất cho ông Trần Xuân T quản lý, sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị C, bà Thạch Thị S trình bày:

Vào khoảng năm 2013 do cần tiền nên bà C, bà S và ông Thái Ngọc Đ cùng đến nhà gặp ông Khưu Văn M hỏi vay số tiền 60.000.000 đồng, phần bà S vay 15.000.000 đồng, phần ông Đ vay 35.000.000 đồng, phần của bà C vay 10.000.000 đồng. Ông M đồng ý cho vay nhưng yêu cầu ông Đ đứng ra vay số tiền 60.000.000 đồng và yêu cầu ông Đ thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ cho ông M dưới hình thức chuyển nhượng cho ông M thì ông M mới cho vay. Thỏa thuận lãi suất của 60.000.000 đồng là 3.600.000 đồng/tháng. Việc vay này chỉ thỏa thuận miệng không có làm biên nhận. Sau khi vay bà C, bà S, ông Đ đóng lãi được nhiều lần, số tiền cụ thể bao nhiêu không nhớ. Hiện nay số tiền vay 60.000.000 đồng vẫn còn thiếu ông M.

Ông Khưu Văn M là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Khưu Tuấn N, anh Khưu Tuấn K1 trình bày: Ông thống nhất như lời trình bày trên của ông.

Ông Thái Ngọc Đ là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị K trình bày: Ông thống nhất như lời trình bày trên của ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thái Thị Bạch Y trình bày: Chị thống nhất vời lời trình bày của ông Thái Ngọc Đ.

Ông Trần Xuân T là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Điều Thị Trúc M1 trình bày: Ông thống nhất như lời trình bày trên của ông.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, quyết định:

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Xuân T yêu cầu ông Thái Ngọc Đ giao trả cho ông Trần Xuân T quyền sử dụng đất đối với thửa đất 59, diện tích 3.874m², tờ bản đồ số 44, loại đất lúa, tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Thái Ngọc Đ.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 863 (nay là thửa 59), diện tích 4.040m², tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, toạ lạc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh giữa ông Thái Ngọc Đ, bà Thạch Thị K với ông Khưu Văn M được Văn phòng C1 chứng thực ngày 14/11/2013 là vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 59, diện tích 3.874m², tờ bản đồ số 44, loại đất lúa, tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh giữa ông Trần Xuân T với ông Khưu Văn M, bà Nguyễn Thị H được Văn phòng C1 chứng thực ngày 02/7/2019 là vô hiệu.

Ông Thái Ngọc Đ, bà Thạch Thị K được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục kê khai, đăng ký để được cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất 59, diện tích 3.874m², tờ bản đồ số 44, loại đất lúa, tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Đất có vị trí, tứ cận như sau:

  • Hướng Đông giáp kênh có chiều dài 40,76m.
  • Hướng Tây giáp Bờ kênh có chiều dài 45,32m.
  • Hướng Nam giáp thửa 49 có chiều dài 89,2m.
  • Hướng Bắc giáp thửa 49 có chiều dài 61,95m; giáp thửa 50 có chiều dài 28,25m.

(Có sơ đồ khu đất kèm theo)

  1. Buộc ông Khưu Văn M, anh Khưu Tuấn K1, anh Khưu Tuấn N liên đới (anh K1, anh N chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị H để lại mà anh K1, anh N được hưởng thừa kế của bà H) trả cho ông Trần Xuân T số tiền đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 165.000.000 đồng và số tiền ông Trần Xuân T bị thiệt hại do chênh lệch giá đất là 365.880.000 đồng.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi chi phí tố tụng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 04/01/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Khưu Văn M có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét miễn án phí, do là người cao tuổi.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người kháng cáo ông Khưu Văn M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và xin xét xử vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm theo hướng miễn án phí cho ông M do ông M sinh năm 1962 là người cao tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét yêu cầu kháng cáo của ông Khưu Văn M, thấy rằng:

Tại quyết định Bản án sơ thẩm tuyên: “Buộc ông Khưu Văn M, anh Khưu Tuấn K1, anh Khưu Tuấn N liên đới (anh K1, anh N chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị H để lại mà anh K1, anh N được hưởng thừa kế của bà H) chịu 25.235.200 đồng án phí dân sự sơ thẩm”.

Hồ sơ thể hiện: Ông Khưu Văn M sinh năm 1962, thời điểm xét xử sơ thẩm ông M đã trên 60 tuổi.

Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 2 Luật người cao tuổi thì ông M thuộc đối tượng miễn án phí.

Án sơ thẩm buộc ông M cùng chịu liên đới cùng Khưu Tuấn K1, anh K2 Tuấn N số tiền án phí 25.235.200 đồng là không đúng.

[2]. Từ những phân tích nhận định trên, thấy rằng yêu cầu kháng cáo của ông Khưu Văn M là có căn cứ chấp nhận. Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng cáo, sửa bản án dân sự sơ thẩm về án phí theo hướng miễn án phí cho ông M là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông M được miễn.

[4]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Chấp nhận kháng cáo của ông Khưu Văn M. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh về án phí.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Xuân T yêu cầu ông Thái Ngọc Đ giao trả cho ông Trần Xuân T quyền sử dụng đất đối với thửa đất 59, diện tích 3.874m2, tờ bản đố số 44, loại đất lúa, tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Thái Ngọc Đ.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 863 (nay là thửa 59), diện tích 4.040m2, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, toạ lạc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh giữa ông Thái Ngọc Đ, bà Thạch Thị K với ông Khưu Văn M được Văn phòng C1 chứng thực ngày 14/11/2013 là vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 59, diện tích 3.874m2, tờ bản đồ số 44, loại đất lúa, tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh giữa ông Trần Xuân T với ông Khưu Văn M, bà Nguyễn Thị H được Văn phòng C1 chứng thực ngày 02/7/2019 là vô hiệu.

Ông Thái Ngọc Đ, bà Thạch Thị K được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục kê khai, đăng ký để được cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất 59, diện tích 3.874m2, tờ bản đồ số 44, loại đất lúa, tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Đất có vị trí, tứ cận như sau:

  • Hướng Đông giáp kênh có chiều dài 40,76m;
  • Hướng Tây giáp Bờ kênh có chiều dài 45,32m;
  • Hướng Nam giáp thửa 49 có chiều dài 89,2m;
  • Hướng Bắc giáp thửa 49 có chiều dài 61,95m; giáp thửa 50 có chiều dài 28,25m. (Có sơ đồ khu đất kèm theo)
  1. Buộc ông Khưu Văn M, anh Khưu Tuấn K1, anh Khưu Tuấn N liên đới (anh K1, anh N chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị H để lại mà anh K1, anh N được hưởng thừa kế của bà H) trả cho ông Trần Xuân T số tiền đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 165.000.000đồng và số tiền ông Trần Xuân T bị thiệt hại do chênh lệch giá đất là 365.880.000 đồng.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  • - Buộc ông Trần Xuân T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp theo biên lai số 0005027 ngày 13/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, ông T không phải nộp tiếp.
  • - Buộc anh Khưu Tuấn K1, anh Khưu Tuấn N liên đới chịu 25.235.200 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Miễn án phí cho ông Khưu Văn M.
  1. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Khưu Văn M được miễn.
  2. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS, VP, 15bTTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 452/2024/DS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 452/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của ông Khưu Văn M. Sửa bản án dân sự sơ thẩm về án phí.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger