TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 451/2024/DS-PT
Ngày 22 - 8 - 2024
V/v tranh chấp QSDĐ về ranh giới, mốc giới và yêu cầu hủy GCNQSDĐ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh
Các Thẩm phán: Ông Điều Văn Hằng và bà Phan Thị Vân Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Đào Trọng Thuyết - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án thụ lý số: 274/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh giới, mốc giới và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 8932/2024/QĐPT-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Duy P, sinh năm 1950; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Đặng Huy N, sinh năm 1940; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện N, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Ngọc L - Chủ tịch UBND huyện N. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1956; người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Duy P, sinh năm 1950; cùng địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. (có mặt ông P, vắng mặt bà C)
- Anh Đặng Văn N1, sinh năm 1961; anh Đặng Huy N2, sinh năm 1967; anh Đặng Huy T, sinh năm 1970 và anh Đặng Huy T1, sinh năm 1971. Người đại diện theo ủy quyền của anh N1, anh N2, anh T và anh T1: Ông Đặng Huy N, sinh năm 1940; cùng địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. (có mặt ông N, anh N1)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đặng Duy P trình bày:
Năm 1977, gia đình ông được cấp một mảnh đất 500m² tại thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Sau khi được cấp đất, gia đình ông khai hoang thùng vũng, gò đống hoang hóa ở gần nhà thêm 351m² đất ở và được UBND xã giao quyền quản lý và sử dụng theo bản đồ 299 là 851m². Năm 1990, ông và ông Đặng Huy N, bà Nguyễn Thị L1 có thỏa thuận đổi đất cho nhau, theo đó ông đổi 200m² đất tại thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương lấy 120m² đất ở của gia đình ông N tại đường C thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Hai bên thống nhất vị trí giao đất phía Bắc giáp nhà ông D, phía Đông giáp mép ao nhà ông, lấy dài nhân rộng là 200m².
Năm 1996, UBND xã N tiến hành đo làm trích lục đất cho nhà ông N nhưng gia đình ông là chủ đất không có mặt để giao, ông không ký tên vào trích lục đo đất. Theo bản đồ đo vẽ năm 2011 của UBND xã N thể hiện diện tích đất nhà ông Đặng Duy N3 là 230,7m², vì vậy gia đình ông N3 đã lấn sang nhà ông 30,7m² đất. Do đó, ông khởi kiện buộc gia đình ông N3 trả lại diện tích 30,7m² đất đã lấn chiếm của gia đình ông; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số Đ-758395 do UBND huyện N cấp ngày 31/8/2004, thửa đất số 07 tờ bản đồ số 13, diện tích 536m² và ao là 116m² đất tại thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương mang tên Đặng Duy P và Nguyễn Thị C; đồng thời hủy GCNQSDĐ số W 007836 do UBND huyện N cấp ngày 31/8/2004, thửa đất số 05 tờ bản đồ số 13, diện tích 199m² đất tại thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương mang tên Đặng Huy N và Nguyễn Thị L1.
Theo kết quả thẩm định tại chỗ của Tòa án, diện tích đất tranh chấp ký hiệu S3 = 26,6m², ông đề nghị Tòa án giải quyết theo kết quả thẩm định.
Bị đơn ông Đặng Huy N trình bày: Ông là chú ruột của ông Đặng Duy P. Khoảng năm 1990, khi ông P đang là Chủ tịch UBND xã N, hai bên gia đình có việc đổi đất cho nhau. Ông đổi cho ông P khoảng 120m² đất tại thôn B, xã N còn ông P đổi cho ông khoảng 200m² đất tại thôn T, xã N; khi đổi hai bên chỉ thỏa thuận miệng, không lập thành văn bản; hai bên thống nhất mốc giới với nhau với diện tích khoảng 200m² đất. Sau khi đổi đất, gia đình ông P xây tường bao làm ranh giới ngăn cách giữa hai bên thửa đất nhà ông P và thửa đất nhà ông từ mặt giáp đường làng cho đến khi hết đất, gia đình ông xây tường phía sau giáp ao nhà ông P, gia đình ông đã xây dựng nhà chính, sân. Phần công trình phụ, trên phần diện tích đất ông P đang khởi kiện có chuồng lợn và nhà vệ sinh cũ của gia đình ông, bức tường ngăn cách giữa hai gia đình vẫn còn. Thời điểm đo đạc năm 1996, đo thủ công có thể có sai số trong quá trình đo đạc dẫn đến tại bản đồ đo đạc năm 2011, diện tích đất của gia đình ông là 230,7m² đất. Gia đình ông và gia đình ông P sử dụng thửa đất ổn định đến năm 2021 mới xảy ra tranh chấp. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông P, đề nghị Tòa án giải quyết giữ nguyên hiện trạng quyền sử dụng đất của hai gia đình. Thửa đất số 05 thuộc tờ bản đồ số 13 được cấp GCNQSDĐ mang tên Đặng Huy N và Nguyễn Thị L1, bà L1 chết năm 2022 không để lại di chúc; vợ chồng ông có 04 người con là Đặng Văn N1, Đặng Huy N2, Đặng Huy T và Đặng Huy T1, ngoài ra ông bà không có người con nuôi, con riêng nào khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Công trình b: Bà là vợ ông Đặng Duy P, bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông P, bà ủy quyền cho ông P thay bà tham gia tố tụng tại Tòa án, quan điểm của ông P là quan điểm của bà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đặng Văn N1, Đặng Huy N2, Đặng Huy T và Đặng Huy T1 trình bày: Các anh là con đẻ của ông Đặng Huy N và bà Nguyễn Thị L1, bố mẹ anh sinh được 04 người con là anh N1, anh N2, anh T và anh T1, ngoài ra không có con nuôi, con riêng nào khác. Các anh nhất trí với quan điểm của ông N trình bày với Tòa án và ủy quyền cho ông N tham gia tố tụng tại Tòa án, quan điểm của ông N là quan điểm của các anh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND huyện N, tỉnh Hải Dương trình bày:
Đối với hộ ông Đặng Duy P: Về hồ sơ địa chính: Hồ sơ lập theo bản đồ chỉ thị 299 tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 10, diện tích 550m² loại đất T, chủ sử dụng Đặng Văn P1. Hồ sơ đo đạc năm 1993, thửa đất số 08, tờ bản đồ số 1, diện tích 536m², loại đất T, chủ sử dụng Đặng Duy P và thửa đất số 7, tờ bản đồ 13, diện tích 116m², loại đất ATH, chủ sử dụng Đặng Duy P. Hồ sơ hiện trạng năm 2011 tại thửa đất số 07, tờ bản đồ số 24, diện tích 673m², loại đất ONT, chủ sử dụng Đặng Huy P2. Về hồ sơ cấp GCNQSDĐ gồm: Quyết định số 1459/QĐ-UB ngày 31/8/2004 của UBND huyện N về việc cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình xã N, trong đó có ông Đặng Duy P và bà Nguyễn Thị C; đơn xin cấp GCNQSDĐ của ông Đặng Duy P; biên bản xác định ranh giới, mốc giới ngày 30/3/1996; thông báo về việc hộ gia đình tự kiểm tra thửa đất đang sử dụng để lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ.
Đối với hộ ông Đặng Huy N: Hồ sơ lập theo bản đồ chỉ thị 299 tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 10, diện tích 550m² loại đất T, chủ sử dụng Đặng Văn P1. Hồ sơ đo đạc năm 1993, thửa đất số 05 tờ bản đồ 13 diện tích 199m² loại đất T, chủ sử dụng là Đặng Huy N (được tách từ thửa số 03, tờ bản đồ số 10, bản đồ 299 mang tên Đặng Duy P). Bản đồ hiện trạng lập năm 2011 tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số 24, diện tích 230,7m² loại đất ONT chủ sử dụng Đặng Huy N. Hồ sơ cấp GCNQSDĐ gồm: Quyết định số 1186/QĐ-UB ngày 14/7/2004 của UBND huyện N về việc cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình xã N, trong đó có ông Đặng Huy N và bà Nguyễn Thị L1; đơn xin cấp GCNQSDĐ của ông Đặng Duy P; thông báo về việc hộ gia đình tự kiểm tra thửa đất đang sử dụng để lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, UBND huyện N đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Bà là hàng xóm đối diện với diện tích đất nhà ông P và ông N, bà sinh sống tại đây từ năm 1986; bà có biết việc ông P và ông N đổi đất cho nhau, nội dung đổi cụ thể như nào bà không nắm rõ. Tuy nhiên, sau khi đổi đất, vợ chồng ông P ra sinh sống tại thửa đất đã đổi cho ông N, ông P vẫn thường xuyên về thăm bố mẹ, ông N ở trên đất do gia đình ông P đổi, gia đình ông P đã xây bức tường ngăn cách giữa hai nhà (cụ thể là bố mẹ đẻ ông P xây bức tường trên). Hai gia đình sử dụng đất ổn định đến năm 2021 mới xảy ra tranh chấp.
Kết quả xác minh tại UBND xã N, huyện N: Nguồn gốc quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp: Thửa đất số 03 tờ bản đồ số 10 đứng tên ông Đặng Duy P với diện tích 500m². Sau đó có việc đổi đất giữa ông P và ông N vào năm 1990, diện tích đổi cụ thể như nào địa phương không nắm được, tuy nhiên sau khi đổi đất hai bên gia đình đều được cấp GCNQSDĐ. Theo bản đồ đo đạc năm 1993: Ông Đặng Duy P gồm thửa 07 và 08 diện tích 652m² thuộc tờ bản đồ số 13; ông Đặng Huy N thửa số 05, tờ bản đồ số 13 diện tích 199m². Theo bản đồ đo đạc năm 2011, ông Đặng Duy P đăng ký thửa số 07 diện tích 673,7m² thuộc tờ bản đồ số 24; ông Đặng Huy N đăng ký thửa số 06, tờ bản đồ số 24, diện tích 230,7m².
Quá trình sử dụng đất từ năm 1990 đến năm 2021 không có tranh chấp, từ cuối năm 2021 đến nay ông P mới tranh chấp mốc giới với ông N. Địa phương đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết vụ án theo quy định.
Đối với diện tích đo đạc thực tế của nhà ông N là 217,1m² đất là do quá trình làm đường, ông N đã hiến đất để làm đường. Diện tích đo đã thực tế của nhà ông P là 672,7m², mặc dù gia đình ông P cũng đã hiến đất để làm đường nhưng diện tích tăng so với GCNQSDĐ, các hộ giáp danh gia đình ông P không có ý kiến gì về tranh chấp mốc giới quyền sử dụng đất.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương ngày 18/01/2024 : Tổng diện tích hiện trạng đất do ông P đang sử dụng là 672,9m²; tổng diện tích hiện trạng đất do ông N đang sử dụng là 217,1m² đất, theo ông P xác định diện tích đất tranh chấp ký hiệu S3 là 26,6m². Trên phần đất tranh chấp có các tài sản: 01 phần chuồng gà xây năm 1991-1992 diện tích 4,5m²; 01 phần nhà vệ sinh nhà ông N xây năm 1991 diện tích 1,8m²; 01 phần sân trạt bê tông xây năm 1992, diện tích 12,6m²; 01 đoạn tường giáp đường trục thôn, xây ba banh, có trát dài 1,5m cao 1,5m; phần ranh giới giữa hai bên gia đình là bức tường do gia đình ông P xây dựng năm 1992 bằng gạch ba banh có chiều dài 13,6m cao 1,5m; 01 đoạn tường đã bị đổ chỉ còn chân tường gạch ba banh dài 4,8m; 01 đoạn tường phía sau giáp về phía ao chỉ còn chân tường do ông N xây năm 1992, dài 1,5m; 01 đoạn tường hoa ngăn cách giữa sân và vườn nhà ông N dài 1,5m cao 70cm; 02 cây mít và 11 cây đinh lăng.
Theo kết quả định giá tài sản: Đất ở có giá trị 2.880.000đ/1m²; giá trị tài sản trên đất là 01 đoạn tường giáp đường thôn xây gạch ba banh giá 0 đồng ; 01 phần sân trạt bê tông giá 254.705đồng; 01 phần chuồng gà xây năm 1992 giá 0 đồng; 01 phần nhà vệ sinh xây năm 1991 giá 0 đồng; 01 bức tường ranh giới hai nhà xây năm 1992 giá 628.156đồng; 01 đoạn tường móng ranh giới giữa hai nhà giá 105.895đồng; 01 đoạn tường giáp ao giá 142.845đồng; tổng giá trị là 1.131.601đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 158, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự; các Điều 106, 166, 170 Luật Đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Duy P về việc yêu cầu bị đơn ông Đặng Huy N trả lại diện tích đất 26,6m² (ký hiệu S3) được giới hạn bởi các điểm A1, A2, A22, A21 và A20. Xác định ranh giới giữa đất của gia đình ông Đặng Duy P và ông Đặng Huy N là bức tường ký hiệu (điểm A1 - A21) (Có sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Duy P về việc hủy GCNQSDĐ số Đ-758395 thửa đất số 07 tờ bản đồ số 13, diện tích 536m² và ao là 116m² đất tại thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương do UBND huyện N cấp ngày 31/8/2004 mang tên Đặng Duy P và Nguyễn Thị C và GCNQSDĐ số W 007836, thửa đất số 05, tờ bản đồ số 13, diện tích 199m² đất tại thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương do UBND huyện N cấp ngày 31/8/2004 mang tên Đặng Huy N và Nguyễn Thị L1.
- Các đương sự có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý GCNQSDĐ của gia đình mình theo đúng số đo như hiện trạng sử dụng đất.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Đặng Duy P.
- Về chi phí tố tụng: Ông Đặng Duy P phải chịu 7.000.000đồng chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (ông P đã nộp đủ).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/3/2024, nguyên đơn ông Đặng Duy P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đặng Duy P giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Bị đơn ông Đặng Huy N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Văn N1 đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông P, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Duy P, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của các đương sự và ý kiến tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngày 25/3/2024, nguyên đơn ông Đặng Duy P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền của họ có mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Đặng Duy P, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy:
[2.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Các đương sự trong vụ án đều thống nhất xác định nguồn gốc quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp theo bản đồ 299 là thửa đất số 03, tờ bản đồ số 10 đứng tên ông Đặng Duy P với diện tích 500m². Năm 1990, ông Đặng Duy P và ông Đặng Huy N, bà Nguyễn Thị L1 có thỏa thuận đổi đất cho nhau, theo đó ông P đổi 200m² đất tại thôn A, xã N, huyện N lấy 120m² đất ở của nhà ông N tại đường C thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Hai bên thống nhất vị trí giao đất, ông P sang diện tích đất ông N ở và ông N sinh sống tại diện tích đất đã đổi với ông P. Mặc dù không lập bằng văn bản nhưng hai bên đều đã được cấp GCNQSDĐ đối với phần đất đã đổi và không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết về việc đổi đất nên đây được coi là chứng cứ không phải chứng minh.
Theo bản đồ đo đạc năm 1993: Ông Đặng Duy P đứng tên tại thửa đất số 07 và 08 diện tích 652m² thuộc tờ bản đồ số 13; ông Đặng Huy N đứng tên tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 13 diện tích 199m². Theo bản đồ đo đạc năm 2011, ông Đặng Duy P đăng ký thửa số 07, diện tích 673,7m² thuộc tờ bản đồ số 24; ông Đặng Huy N đăng ký thửa số 06, tờ bản đồ số 24, diện tích 230,7m².
[2.2] Về xác định ranh giới, mốc giới giữa hai thửa đất: Nguyên đơn ông Đặng Duy P khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Đặng Huy N trả lại đất ông N đã lấn chiếm theo kết quả thẩm định diện tích đất 26,6m² (ký hiệu S3) với lý do ông P đổi đất cho ông N phần diện tích 200m² lấy diện tích đất 120m² ở ngoài đường 390 thôn B, xã N, huyện N của gia đình ông N. Quá trình sử dụng đất, ông N đã hiến đất làm đường nên sau khi trừ đi diện tích đất ông N đã hiến đất làm đường là 8,94m² thì sẽ xác định được diện tích đất còn lại của ông N. Ông P xác định biên bản xác định ranh giới mốc giới thửa đất ngày 30/3/1990, khi đoàn đo đạc đến đo cùng ngày cả hai thửa đất ông không có nhà, ông không ký. Tuy nhiên, người làm chứng bà Nguyễn Thị L1 là hàng xóm, sinh sống tại khu vực tranh chấp từ 1986 xác định, có việc đổi đất giữa ông P và ông N và xác định bức tường ngăn cách giữa hai bên gia đình ông P và ông N là do gia đình ông P tự xây dựng sau khi đổi đất, ông P không sinh sống tại thửa đất này nhưng vẫn thường xuyên qua lại thửa đất để thăm bố mẹ.
Việc ông P cho rằng sau khi đổi đất không sinh sống trên đất nên không biết việc bố mẹ ông xây bức tường ranh giới giữa hai bên, tuy nhiên các đương sự và người làm chứng đều xác định sau khi đổi đất mặc dù ông P về sinh sống trên thửa đất đã đổi cho ông N nhưng bố mẹ đẻ ông P vẫn sinh sống tại thửa đất đứng tên ông P, ông P vẫn qua lại thửa đất, thăm nom bố mẹ thường xuyên. Hơn nữa, các đương sự đều xác định sau khi gia đình ông P và ông N hiến đất làm đường thì ông P, ông N đều tự xây lại bức tường giáp đường thôn đến bức tường làm ranh giới ngăn cách giữa hai bên gia đình nên không có căn cứ cho rằng ông P không biết bức tường ngăn cách giữa hai bên được hình thành từ sau khi đổi đất.
Ông P và ông N cùng có quan điểm xác định bờ tường cuối đất nhà ông N giáp với đất ao của nhà ông P (điểm A4 đến A22 tại sơ đồ thẩm định) hai bên không có tranh chấp. Do vậy, có căn cứ xác định bờ tường từ điểm A4 đến điểm A22 là ranh giới giữa hai bên gia đình không có tranh chấp.
Như vậy, có thể khẳng định bức tường ngăn cách giữa đất nhà ông P và nhà ông N là do gia đình nguyên đơn xây dựng được hình thành và tồn tại đến nay đã trên 30 năm. Nguyên đơn, bị đơn sử dụng ổn định theo đúng ranh giới đó. Cụ thể, nguyên đơn trồng một số cây, bị đơn đã làm sân và xây dựng một số công trình phụ phía cuối đất giáp với bức tường ngăn cách giữa hai bên, nguyên đơn không có ý kiến gì cho đến năm 2021 mới cho rằng bị đơn lấn chiếm đất và khởi kiện là không có cơ sở. Theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Dân sự quy định về ranh giới giữa các bất động sản: “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp”. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định bức tường do gia đình ông P xây dựng (từ điểm A1 đến A21) là ranh giới, mốc giới lịch sử giữa hai thửa đất của hai gia đình. Nguyên đơn xác định khi giao đất cho bị đơn không giao cụ thể chỉ biết là 200m², nhưng bức tường là do gia đình nguyên đơn xây, nguyên đơn chỉ căn cứ vào GCNQSDĐ để xác định bị đơn lấn chiếm đất của nguyên đơn là không phù hợp. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Duy P về việc yêu cầu bị đơn ông Đặng Huy N trả lại diện tích đất 26,6m² (ký hiệu S3) do gia đình ông N đã lấn chiếm, mà cần giữ nguyên hiện trạng theo đúng ranh giới, mốc giới như phân tích ở trên.
[2.3] Về yêu cầu hủy GCNQSDĐ: Việc cấp GCNQSDĐ của UBND huyện N đối với thửa đất số 07, tờ bản đồ số 24, diện tích 673m² cho ông Đặng Duy P và thửa đất số 06, tờ bản đồ số 24, diện tích 230,7m² cho ông Đặng Huy N tại thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương là đúng về trình tự, thủ tục và căn cứ cấp GCNQSDĐ. Tuy nhiên, do hiện trạng các cạnh và diện tích các thửa đất biến động thay đổi so thời điểm cấp GCNQSDĐ nên các cơ quan có thẩm quyền sẽ điều chỉnh, đính chính GCNQSDĐ theo quy định của Luật đất đai. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Duy P về việc hủy GCNQSDĐ số Đ-758395 thửa đất số 07 tờ bản đồ số 13, diện tích 536m² và ao là 116m² đất tại thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương do UBND huyện N cấp ngày 31/8/2004 mang tên Đặng Duy P và Nguyễn Thị C và GCNQSDĐ số W 007836 thửa đất số 05 tờ bản đồ số 13, diện tích 199m² đất tại thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương do UBND huyện N cấp ngày 31/8/2004 mang tên Đặng Huy N và Nguyễn Thị L1.
Các đương sự có quyền đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉnh lý GCNQSDĐ theo đúng hiện trạng sử dụng đất của gia đình các đương sự.
[2.4] Về chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của ông P không được chấp nhận nên ông P phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản với số tiền 7.000.000đ (ông P đã nộp đủ).
[2.5] Từ những phân tích, nhận định nêu trên thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông P không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì mới có ý nghĩa để chứng minh cho nội dung kháng cáo và yêu cầu khởi kiện nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông P, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
[2.6] Về án phí: Do ông P là người cáo tuổi, có đơn xin miễm án phí nên Tòa án miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông P.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đặng Duy P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Đặng Duy P.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Minh |
Bản án số 451/2024/DS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh giới, mốc giới và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 451/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh giới, mốc giới và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: P-N tranh chấp QSDĐ
