|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 451/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-11-2024
Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con chung
giữa chị Nguyễn Thị Minh Tâm và anh
Nguyễn Văn Vũ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Quang Chung.
Bà Vương Thị Minh Tân.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thuỷ- Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 327/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/QÐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1986; nơi đăng ký thường trú: số B đường V, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: C đường H, phường C (phường B cũ), thành phố N, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1979; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số B đường V, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: chị T có mặt; anh V vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 25-9-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn V được gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán vào năm 2002, nhưng đến ngày 14 tháng 7 năm 2004 chị T, anh V mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Quá trình chung sống đến năm 2007 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống chung nảy sinh nhiều bất đồng, hai bên không hòa hợp, khác biệt nhau về quan điểm và tính cách, thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau. Bản thân anh V ham chơi, không quan tâm đến gia đình nhiều lần vi phạm pháp luật phải đi tù. Vợ chồng đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhiều lần nhưng đều không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục hàn gắn được nữa, nên chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn V.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn V có ba con chung là Nguyễn Văn P, sinh ngày 16-01-2003 (giới tính: Nam), Nguyễn Đức L, sinh ngày 07-4-2005 (giới tính: Nam), Nguyễn Đức L1, sinh ngày 07-02-2007 (giới tính: Nam). Cháu Nguyễn Văn P và Nguyễn Đức L đã trên 18 tuổi trưởng thành và tự lập được nên không đề nghị Tòa án giải quyết về việc giao nuôi con chung đối với hai cháu. Chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức L1 và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn là anh Nguyễn Văn V đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh V không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng không tham gia phiên tòa nên anh V không có lời khai thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án
3. Tại đơn đề nghị ngày 08-10-2024 của chị Nguyễn Thị Minh T có xác nhận của địa phương: chị T, anh V được hai bên gia đình tổ chức cưới vào năm 2002, nhưng đến tháng 7 năm 2004 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống nảy sinh nhiều bất đồng, vợ chồng không hòa hợp nhau nên thường xuyên xảy ra va chạm. Hai bên đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhiều lần nhưng đều không có kết quả nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Anh chị có ba con chung là Nguyễn Văn P, sinh ngày 16-01-2003 (giới tính: Nam), Nguyễn Đức L, sinh ngày 07-4-2005 (giới tính: Nam), Nguyễn Đức L1, sinh ngày 07-02-2007 (giới tính: Nam).
4. Tại biên bản ghi nguyện vọng của con chung ngày 08-10-2024, cháu Nguyễn Đức L1 trình bày: Cháu là con mẹ Nguyễn Thị Minh T và bố Nguyễn Văn V, nay bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng ở với mẹ.
5. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại điều 70, điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Minh T và anh Nguyễn Văn V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh T.
- Về con chung: Căn cứ vào các quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung là Nguyễn Đức L1, sinh ngày 07-02-2007 chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục.
- Về án phí : Chị Nguyễn Thị Minh T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn V là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Văn V.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh T và anh Nguyễn Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N ngày 14-07-2004 nên là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên không hòa hợp, khác biệt nhau về lối sống và tính cách. Theo chị T trình bày thì anh V ham chơi, không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhiều lần nhưng đều không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai bên chung sống không có tình cảm, không có sự tôn trọng lẫn nhau và vợ chồng ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, đã mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tạo điều kiện để vợ chồng giải quyết mâu thuẫn, về chung sống đoàn tụ nhưng anh V không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn V.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Minh T và anh Nguyễn Văn V mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Minh T và anh Nguyễn Văn V
[3] Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Minh T và anh Nguyễn Văn V có ba con chung là Nguyễn Văn P, sinh ngày 16-01-2003 (giới tính: Nam), Nguyễn Đức L, sinh ngày 07-4-2005 (giới tính: Nam), Nguyễn Đức L1, sinh ngày 07-02-2007 (giới tính: Nam). Cháu Nguyễn Văn P và Nguyễn Đức L đã trên 18 tuổi trưởng thành và tự lập được nên chị T không đề nghị Tòa án giải quyết về việc giao nuôi con chung đối với hai cháu. Chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức L1 và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, anh V không có lời khai thể hiện quan điểm về việc giao nuôi con chung, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Đức L1, cháu L1 cũng có lời khai trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Nguyễn Thị Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Đức L1, sinh ngày 07-02-2007 là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Minh T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Nguyễn Thị Minh T là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Minh T và anh Nguyễn Văn V.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Đức L1 (giới tính: Nam), sinh ngày 07-02-2007.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Minh T không yêu cầu anh Nguyễn Văn V cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh T nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị Minh T đã nộp tại biên lai số 0002303 ngày 02-10-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
4. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Minh T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Văn V có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị T và anh V có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Hà |
Bản án số 451/2024/HNGĐ-ST ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 451/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Minh Tâm- Nguyễn Văn Vũ ly hôn
