Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 451/2024/HNGĐ-ST

Ngày 21-10-2024

V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Minh

Ông Văn Công Trọn

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa – Là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 513/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 425/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Hoài P, sinh năm: 1977 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/8/2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Hoài P trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau vào năm 2001. Quá trình chung sống, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi. Nay ông xác định không còn tình cảm nên xin ly hôn với bà T.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Trường A, sinh năm 2002; cháu Trần Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/02/2009, hiện cháu A đã trưởng thành, cháu T1 đang sống cùng ông. Khi ly hôn, ông P yêu cầu nuôi cháu T1, không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Ông P xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Ông P xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà Nguyễn Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Hoài P có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P, bà T. Ông P yêu cầu được ly hôn nên xác định là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Hoài P và bà Nguyễn Thị T xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, ông P cho rằng giữa hai vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được, không còn tình cảm yêu thương nên yêu cầu ly hôn với bà T. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng để bà T tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của ông P. Điều đó chứng tỏ bà T đã không quan tâm đến việc hòa giải hàn gắn đoàn tụ cũng như bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình. Xét thấy, hôn nhân của ông P và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hoài P về việc xin ly hôn với bà Nguyễn Thị T.

[3] Về con chung: Ông P xác định có 02 người con chung tên Trần Trường A, sinh năm 2002; cháu Trần Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/02/2009, hiện cháu A đã trưởng thành nên không xem xét. Xét yêu cầu nuôi cháu T1 của ông P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu T1 đang sống ổn định với ông P và nguyện vọng của cháu là được sống với ông P, việc giao cháu T1 cho ông P nuôi sẽ không làm xáo trộn cuộc sống của cháu. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung là cháu Trần Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/02/2009 cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi. Bà T không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Ông P xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Do không ghi nhận được ý kiến của bị đơn bà T, nếu sau này có phát sinh tranh chấp bà T có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

[5] Về nợ chung: Ông P xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Ông P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Hoài P về việc xin ly hôn với bà Nguyễn Thị T.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/02/2009 cho ông Trần Hoài P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không xem xét. Bà Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Trần Hoài P phải chịu 300.000 đồng. Ngày 08/8/2024 ông P đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0005460 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời nay được chuyển thu, ông P đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Ông Trần Hoài P, bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - CCTHADS huyện Trần Văn Thời;
  • - UBND xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời
  • (ĐKKH năm 2001);
  • - Đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Đoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 451/2024/HNGĐ-ST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 451/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger