Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 451/2024/HSST

Ngày: 27/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Phi Hổ

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung- Thư ký TAND Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: bà Tống Thị Khánh L - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 446/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 456/2024/QĐXXST-HS ngày 13/8/2024 đối với:

  • - Bị cáo: Lê Thị Quế H; Tên gọi khác: Nguyễn Thị H1; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1978; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 00/12; Con ông Nguyễn Minh H2, sinh năm 1955 (Đã chết) và bà Trần Thị N, sinh năm 1957 (Còn sống); Gia đình có chín chị em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo không có chồng; có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1997 và con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/4/2024 đến ngày 10/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (có mặt)
  • - Bị hại: Chị Lê Thị Ngọc K, sinh năm, 2000; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai(có đơn xin vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Ngọc Cẩm T, sinh năm 1976; Địa chỉ: 2 khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
  • - Người làm chứng: Chị Huỳnh Ngọc Cẩm Đ, sinh năm 2003; Địa chỉ: 2 khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị Quế H là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, không có tiền tiêu xài cá nhân nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 22/08/2019, H mua 01 (một) nhẫn trơn bằng kim loại màu vàng từ một người bán hàng rong ven đường với giá 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng), sau đó, điều khiển xe mô tô hiệu Atila biển số 59X1- 352.06 đi từ phòng trọ của H tại quận I, thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố B, tỉnh Đồng Nai để tìm tiệm vàng nào sơ hở sẽ dùng thủ đoạn gian dối đánh tráo vàng thật của tiệm vàng rồi chiếm đoạt. Khi đi đến tiệm V tại địa chỉ số G, tổ B, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, H thấy chị Lê Thị Ngọc K (sinh năm 2000, thường trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai) là nhân viên của tiệm vàng còn nhỏ tuổi nên vào tiếp cận và giả vờ hỏi mua vàng. H đề nghị chị K cho H đeo thử nhẫn vàng trơn 02 chỉ, loại vàng 9999. Lợi dụng lúc chị K không để ý, H lén lút giấu nhẫn chị K1 vừa đưa vào bao tay H cầm trên tay rồi lấy chiếc nhẫn giả ở trong bao tay đưa trả cho chị K và nói H không mua ngay mà phải về hỏi ý kiến của chồng rồi ra khỏi cửa tiệm. H điều khiển xe mô tô về hướng vòng xoay T rồi dừng lại để lấy nhẫn vàng ra đeo thì phát hiện đã làm rơi nhẫn, bị cáo tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ tại quận I, thành phố Hồ Chí Minh.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, chị Huỳnh Ngọc Cẩm T (Sinh năm 1976, thường trú: 21/1, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là chủ tiệm vàng Kim Ngọc P kiểm kê vàng tại tiệm thì phát hiện 01 (một) nhẫn là vàng giả. Chị T kiểm tra lại camera an ninh của tiệm V và ghi nhận diễn biến H chiếm đoạt tài sản nên chị đã trình báo công an phường L, thành phố B. Công an phường L lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền.

Sau đó, chị T đăng tải hình ảnh của H lên mạng xã hội Facebook và được người dùng mạng xã hội bình luận, nhắn tin cung cấp địa chỉ của H tại nhà trọ thuộc khu phố L, phường L, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 23 giờ ngày 25/8/2019, chị T và chị K đến địa chỉ trên yêu cầu H về trụ sở công an thành phố B để trình báo. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Thị Quế H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Ngày 03/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Thị Quế H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Lê Thị Quế H bỏ trốn nên đến ngày 01/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy nã đối với H. Ngày 04/4/2024 H bị bắt truy nã, xử lý.

Vật chứng vụ án gồm:

  • + 01 (Một) xe mô tô hiệu Atila biển số 59X1-352.06 là tài sản của chị Lê Mỹ L1 (con của bị cáo H). Khi cho bị cáo mượn xe mô tô trên, chị L1 không biết H sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị L1;
  • + 01 (Một) nhẫn trơn bằng kim loại màu vàng, mặt bên trong nhẫn có chữ Tín Phát chuyển xử lý cùng vụ án;
  • + 01 USB chứa video vụ án, lưu cùng hồ sơ;

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 498/TCKH-HĐĐG ngày 01/11/2019, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 02 (Hai) chỉ vàng 9999 bị chiếm đoạt trị giá 8.348.000 đồng (Tám triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

Tại Bản Kết luận giám định số: 283/C09B ngày 27/12/2019, của Phân Viện Khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 (Một) nhẫn tròn kim loại màu vàng, có thành phần kim loại chủ yếu là B (A), hàm lượng Vàng (A) rất thấp: 0,03%.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Ngọc K đã được bị cáo bồi thường số tiền 8.280.000 đồng (Tám triệu hai trăm tám mươi đồng) sau đó bồi thường cho bà Huỳnh Ngọc Cẩm T số tiền trên. Chị K và bà T không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 443/CT-VKSBH ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đã truy tố bị cáo Lê Thị Quế Hương về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Thị Quế H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án từ 08 (tám) tháng tù đến 10 (mười) tháng tù.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại chị Lê Thị Ngọc K có đơn xin vắng mặt. Quá trình điều tra, chị K đã có lời khai đầy đủ và không yêu cầu bồi thường. Việc vắng mặt của chị K không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt bị hại theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2].Về hành vi bị truy tố, tội danh, các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 22/08/2019, tại tiệm V địa chỉ số G, tổ B, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Thị Quế H đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt 01 (Một) nhẫn vàng trơn trọng lượng 02 (Hai) chỉ vàng 9999 trị giá 8.348.000 đồng (Tám triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng) do chị Lê Thị Ngọc K quản lý. Đến ngày 04/4/2024 H bị bắt truy nã, xử lý theo quy định

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự như sau:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham, bị cáo đã lợi dụng lòng tin và sự sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại thời điểm phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại số tiền 8.280.000 đồng và được bị hại xin bãi nại; bị cáo là người không được học hành, không biết chữ nên nhận thức pháp luật hạn chế; hiện nay bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Do đó, hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, b, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Do bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo thành người có ích cho xã hội và nuôi con còn nhỏ, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.

[3]. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 (Một) xe mô tô hiệu Atila biển số 59X1-352.06 là tài sản của chị Lê Mỹ L1 (con bị can H). Khi cho bị can H mượn xe mô tô trên, chị L1 không biết H sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị L1 là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 (Một) nhẫn trơn bằng kim loại màu vàng, mặt bên trong nhẫn có chữ Tín Phát: do không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy

Đối với 01 (Một) USB chứa video vụ án: Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

[4].Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lê Thị Ngọc K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Ngọc Cẩm T không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[6]. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp một phần quan điểm của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Lê Thị Quế H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Lê Thị Quế H 04 (bốn) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/4/2024.

    Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) nhẫn trơn bằng kim loại màu vàng, mặt bên trong có chữ Tín Phát

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai).

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Lê Thị Quế H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Công an TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Chi cục THADS TP Biên Hòa;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 451/2024/HSST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 451/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Quế H phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger