Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 451/2025/HS-PT

Ngày: 18 - 06 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Bùi Thị Thu

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Thị Duyên

Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11 và 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1068/2024/TLPT- HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Thị Mộng C do có kháng cáo của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

Huỳnh Thị Mộng C, sinh ngày 18/02/1988, tại Tiền Giang; Thẻ CMND: [...]; Nơi cư trú: ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Công chức (đã bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc); Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Cha là Huỳnh Văn R và mẹ là Trần Thị Thu H; Chồng: Đặng Văn T (đã ly hôn năm 2020); Bị cáo có 2 người, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ Đặng Quỳnh A, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/11/2022. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo C: Luật sư Trần Ngọc Q - Văn phòng Trần Ngọc Q - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.

* Bị hại:

  1. Hồ Thị Đ, sinh năm 1976; Có mặt.
  2. Trần Thị Bạch T1, sinh năm 1995; Có mặt.

Cùng địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị hại Đ, bị hại T1: Luật sư Phạm Trọng Ê - Văn phòng Công ty L ÊM VÀ CỘNG SỰ - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Đặng Văn T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Có mặt.
  2. Ngô Văn M, sinh năm 1931; Vắng mặt.
  3. Ngô Thị X, sinh năm 1976; Có mặt.

Cùng địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang;

Đại diện theo ủy quyền của ông M: Ngô Thị X, sinh năm 1976. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngô Thị X: Luật sư Nguyễn Thị Ngọc C1 Công ty L1 – Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.

  1. Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp K, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyễn Thị Ú: Luật sư Nguyễn Thị Á, Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị Á, thuộc đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.

  1. Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Có mặt.
  2. Phan Trường T3, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Có mặt.
  3. Huỳnh Thị Kim P, sinh năm 1985. Vắng mặt.
  4. Võ Văn V, sinh năm 1980; Có mặt.

Cùng địa chỉ: Khu phố B, Thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo ủy quyền của Huỳnh Thị Kim P: Võ Văn V, sinh năm 1980; Có mặt.

  1. Trần Văn T4, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thị Mộng C là công chức Tư pháp- Hộ tịch thuộc Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Trong thời gian làm công chức Tư pháp- Hộ tịch xã P, C 02 lần lợi dụng sự tin tưởng của người khác, dùng các thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của bị hại, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Ông Ngô Văn M, sinh năm: 1931, cư trú: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang có phần đất thuộc thửa đất số 983, tờ bản đồ số 3, diện tích 12.159,8m², địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (gọi tắt là thửa đất số 983) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) số CH 957565 ngày 06/3/2017.

Năm 2018, ông M có nhu cầu tặng cho thửa đất số 983 cho con gái là chị Ngô Thị X, sinh năm: 1976, cư trú cùng địa chỉ ông M. Do có quen biết và tin tưởng Huỳnh Thị Mộng C là công chức Tư pháp - Hộ tịch của xã nên ông M đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSDĐ) thửa đất số 983 cho C, để nhờ C làm thủ tục tặng cho Ngô Thị X. Đến ngày 12/9/2018, C không thực hiện theo yêu cầu của ông M mà tự ý soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 983, từ bên chuyển nhượng là Ngô Văn M, Ngô Thị X cho bên nhận chuyển nhượng Huỳnh Thị Mộng C, với giá chuyển nhượng là 250 triệu đồng, sau đó Cầm ký giả chữ ký của bên chuyển nhượng (Mười, X) và trình cho Chủ tịch UBND xã P (Nguyễn Tấn T2) ký chứng thực hợp đồng có số là 233 (gọi tắt là hợp đồng số 233). Số chứng thực Hợp đồng 233 này, qua kiểm tra sổ chứng thực hợp đồng giao dịch tại UBND xã P không lưu giữ sổ ghi số 233 ngày 12/9/2018. Sau khi hoàn tất thủ tục chứng thực, C nộp hợp đồng số 233, cùng giấy tờ có liên quan đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 983. Đến ngày 26/9/2018, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C xác nhận vào (trang 3) giấy CNQSDĐ thửa đất nêu trên với nội dung “Chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị Mộng C...”.

Sau khi được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 983, ngày 01/10/2020, Huỳnh Thị Mộng C làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho bà Hồ Thị Đ, sinh năm: 1976, cư trú: Ấp D, xã P, huyện C, với giá 600.000.000đ. Việc chuyển nhượng này, C trực tiếp soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng, bên chuyển nhượng là Cầm, bên nhận chuyển nhượng là bà Hồ Thị Đ. Hợp đồng này có đầy đủ chữ ký bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, C trình cho Chủ tịch UBND xã P (Nguyễn Tấn T2) ký chứng thực hợp đồng có số là 434 (gọi tắt là hợp đồng số 434). Sau đó, bà Đ nộp hợp đồng số 434, cùng giấy tờ có liên quan vào Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 983. Ngày 19/10/2020, bà Hồ Thị Đ được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX032178 đối với thửa đất nêu trên.

Sau khi bà Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Đ nhiều lần yêu cầu Cầm giao đất để canh tác nhưng C không giao. Bà Đ nghi ngờ nên đi tìm hiểu thì biết phần đất trên thuộc quyền sử dụng của ông M và chị X. Từ đó, bà Đ khởi kiện Cầm ra Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy để yêu cầu Cầm thực hiện chuyển giao phần đất nêu trên. Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xác định ông M và chị X là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên triệu tập giải quyết. Từ đó, ông Ngô Văn M, tố cáo Huỳnh Thị Mộng C tự ý giả chữ ký chuyển nhượng thửa đất của ông cho C và C tiếp tục chuyển nhượng cho bà Đ để chiếm đoạt tài sản.

* Tại Kết luận giám định số 577/KL-KTHS (Đ2) ngày 07/6/2022 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • Không đủ cơ sở kết luận chữ ký dạng chữ viết tên “Mười” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 (Giấy viết tay hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ lập ngày 12/9/2018) so với chữ ký, chữ viết trên tài liệu mẫu có phải do cùng một người viết ra không.
  • Chữ viết họ tên “Ngô Văn M” trên tài liệu cần giám định A1 (Giấy viết tay hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ lập ngày 12/9/2018); chữ ký dạng viết tên “Mười”, chữ viết họ tên “Ngô Văn M” (phía dưới chữ ký) trên tài liệu giám định ký hiệu A2 (Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 233 lập ngày 12/9/2018) so với chữ ký, chữ viết trên tài liệu mẫu không phải do cùng một người viết ra.
  • Chữ ký dạng chữ viết tên “Xuân”, chữ viết họ tên “Ngô Thị X” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 (Giấy viết tay hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ lập ngày 12/9/2018) so với chữ ký, chữ viết trên tài liệu mẫu do cùng một người ký và viết ra.
  • Chữ ký dạng chữ viết tên “Xuân”, chữ viết họ tên “Ngô Thị X” trên tài liệu giám định ký hiệu A2 (Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 233 lập ngày 12/9/2018) so với chữ ký, chữ viết trên tài liệu mẫu không phải do cùng một người ký và viết ra.
  • Chữ ký đứng tên “Huỳnh Thị Mộng C” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 (Giấy viết tay hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ lập ngày 12/9/2018), A2 (Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 233 lập ngày 12/9/2018), A3 (Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) so với chữ ký đứng tên “Huỳnh Thị Mộng Cầm” trên tài liệu mẫu ký hiệu M10 đến M15 do cùng một người ký ra.
  • Chữ viết họ tên “Huỳnh Thị Mộng C” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 (Giấy viết tay hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ lập ngày 12/9/2018), A2 (Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 233 lập ngày 12/9/2018), A3 (Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) so với chữ viết họ tên “Huỳnh Thị Mộng C” (phía dưới chữ ký) trên tài liệu mẫu ký hiệu M10 đến M15 do cùng một người viết ra.

* Tại Kết luận giám định số 650/KL-KTHS ngày 12/4/2023 của Phân viện khoa học Hình sự - Bộ C3 tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • Hai file âm thanh có số thứ tự 02 và số thứ tự 10 trong mẫu cần giám định có nội dung hội thoại trùng nhau.
  • Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hội thoại trong 10 file âm thanh mẫu cần giám định.
  • Tiếng nói của người nữ được gọi là “Cầm” (ký hiệu “Cầm” trong “BẢN DỊCH NỘI DUNG”) trong 09 file âm thanh mẫu cần giám định (STT: 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09) và tiếng nói của Huỳnh Thị Mộng C trong file âm thanh mẫu so sánh là của cùng một người nói ra.
  • Tiếng nói của người nữ xưng là “bà” (ký hiệu “Xuân”trong “BẢN DỊCH NỘI DUNG”) trong 09 file âm thanh mẫu cần giám định (STT: 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09) và tiếng nói của Ngô Thị X trong file âm thanh mẫu so sánh là của cùng một người nói ra.
  • Nội dung hội thoại trong 09 file âm thanh mẫu cần giám định (STT: 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09) đã được chuyển thành văn bản (“BẢN DỊCH NỘI DUNG” gồm 82 trang giấy A4).

Vụ thứ hai:

Huỳnh Thị Mộng C đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là giấy CNQSDĐ) thửa đất số 203, tờ bản đồ số 10, diện tích 509,7m² tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C (gọi tắt là thửa đất số 203). Ngày 20/3/2018, Cầm thế chấp thửa đất số 203 tại Ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh M1- Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng B) cùng 05 thửa đất khác để vay số tiền 1.700.000.000đ (Một tỷ bảy trăm triệu đồng).

Ngày 01/10/2020, Huỳnh Thị Mộng C thỏa thuận bán thửa đất số 203 nêu trên cho bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1974, cư trú: ấp K, xã M, thị xã C với giá 1.260.000.000đ. Bà Ú đồng ý mua. Trong ngày, C và bà Ú đến UBND xã P (do C đang nghỉ hộ sản) làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thửa đất 203) cho bà Nguyễn Thị Ú (số chứng thực 436 quyển số 01/2020-SCT/HD), ký tại UBND xã P, việc ký chứng thực không có GCNQSDĐ bản chính (do bản chính Cầm đang thế chấp vay tại Ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh M1- Phòng G). Đồng thời, bà Ú giao cho C làm thủ tục sang tên qua cho bà Ú. Trong ngày 01/10/2020, bà Ú đã thanh toán cho C bằng cách nộp số tiền 1.700.000.000₫ (Một tỷ bảy trăm triệu đồng) vào tài khoản của C (gồm 1.260.000.000đ tiền mua đất của Cầm và số tiền 440.000.000₫ Cầm nhận dùm Huỳnh Thị Kim P (chị ruột Cầm) để Ú mua thửa đất số 204 của P (liền kề thửa đất 203 của Cầm). Cùng ngày 01/10/2020, C đến Ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh M1- Phòng G để làm thủ tục rút tài sản đảm bảo là thửa đất số 203 và đến ngày 06/10/2020, Cầm xóa thế chấp thửa đất số 203 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Sau đó, C cất giữ không làm các thủ tục sang tên cho bà Nguyễn Thị Ú.

Đến ngày 16/10/2020, lợi dụng sự tin tưởng của bà Nguyễn Thị Ú giao cho C làm thủ tục sang tên, đồng thời thửa đất số 203 còn đứng tên của Cầm. Cầm tiếp tục có hành vi gian dối đem thửa đất số 203 chuyển nhượng cho chị Trần Thị Bạch T1, sinh năm 1995, cư trú: ấp D, xã P, huyện C với giá 1.500.000.000₫ (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Cầm nói dối với Tuyết GCNQSDĐ thửa 203 đang cầm cố tại Ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh M1- Phòng G, C yêu cầu T1 đưa số tiền 1.700.000.000đ (Một tỷ bảy trăm triệu đồng) để C trả vào ngân hàng để lấy giấy ra và xóa thế chấp mới làm thủ tục chuyển nhượng cho T1 được. Nhưng thật chất Cầm đã rút giấy của thửa đất số 203 vào ngày 01/10/2020, trước đó 15 ngày. Do tin tưởng nên khi C đến nhà, T1 đã đưa cho C số tiền 1,7 tỷ đồng (tiền mua đất 1,5 tỷ và tiền mượn 200 triệu). Để tiếp tục tạo thêm lòng tin cho T1, C còn yêu cầu T1 chở C đến Ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh M1- Phòng G giả vờ là để nộp tiền vào tài khoản cho C. Ngày 03/11/2020, T1 đến nhà C để lấy GCNQSDĐ thửa 203 bản chính để yêu cầu Cầm làm thủ tục sang tên cho T1.

Khoảng 10 giờ, ngày 05/11/2020, T1 đến UBND xã P gặp Cầm. Tại đây, C đưa T1 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 203 có chứng thực của Chủ tịch UBND xã P. Sau khi ký hợp đồng và chứng thực xong, C đưa Hợp đồng chuyển nhượng và giấy CNQSDĐ thửa 203 bản chính cho T1. Đến khoảng 14 giờ, ngày 05/11/2020, T1 đến Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ huyện C gặp cán bộ- Bộ phận hướng dẫn nộp hồ sơ, để nộp hồ sơ gồm: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bản chính) và giấy CNQSDĐ thửa số 203 (bản chính). Sau khi kiểm tra đầy đủ giấy tờ, Bộ phận hướng dẫn chuyển hồ sơ cho bộ phận tiếp nhận (chị Nguyễn Ngọc N- nhân viên) để nghiên cứu hồ sơ và tiếp nhận. Sau khi kiểm tra đầy đủ tính pháp lý và thủ tục theo quy định thì cán bộ Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Cai Lậy ban hành Phiếu tiếp nhận số 631 về việc tiếp nhận Hợp đồng chuyển nhượng và giấy CNQSDĐ thửa số 203 bản chính. Trong cùng ngày 05/11/2020, chị Nguyễn Ngọc N chuyển cho bộ phận thẩm tra (chị Đặng Thị Kim C2), quá trình kiểm tra chị C2 xác định hồ sơ đầy đủ tính pháp lý (Hợp đồng chuyển nhượng của C chuyển cho T1 thửa đất số 203, giấy CNQSDĐ thửa số 203 bản chính...). Ngày 09/11/2020, chị C2 bàn giao hồ sơ cho Bộ phận đo đạc (Trần Văn T4) để tiến hành đo đạc.

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 10/11/2020, T4 đem hồ sơ vào xã P, hẹn gặp Cầm trước UBND xã P, T4 đậu xe môtô tại quán café gần UBND xã, để hồ sơ trong ba lô trên xe và đi vào UBND xã để lấy bản vẽ (lúc này C đã đến đỗ xe tại quán cafe), khoảng 10 phút sau, T4 ra và cùng đi với Cầm đến vị trí thửa đất số 203 đo đạc, quá trình đo đạc T4 mở ba lô thì phát hiện hồ sơ bị mất. Theo giấy hẹn của Chi nhánh VPĐKĐĐ Cai Lậy thì ngày 12/11/2020, chị T1 đến để nhận kết quả (nhận thông báo nộp thuế theo quy định). Tuy nhiên, Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện C hẹn chị T1 đến ngày 13/11/2020 sẽ trả lời. Ngày 13/11/2020, Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Cai Lậy có lập biên bản làm việc xác định chị T1 có nộp hồ sơ chuyển nhượng theo quy định, hiện hồ sơ đã bị thất lạc và cam kết sẽ hoàn tất thủ tục sang tên trong vòng 01 tháng.

* Tại Kết luận giám định số số 649/KL-KTHS ngày 12/4/2023 của Phân viện khoa học Hình sự - Bộ C3 tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hội thoại trong 04 file âm thanh mẫu cần giám định.
  • Tiếng nói của người nữ được gọi là “chị C”, “Cầm” (ký hiệu “Cầm” trong “BẢN DỊCH NỘI DUNG”) trong 04 file âm thanh mẫu cần giám định và tiếng nói của Huỳnh Thị Mộng C trong file âm thanh mẫu so sánh là của cùng một người nói ra.
  • Tiếng nói của người nữ xưng là “em” (ký hiệu “Nữ” trong “BẢN DỊCH NỘI DUNG”) trong file âm thanh mẫu cần giám định (ký hiệu “A”) và tiếng nói của Nguyễn Ngọc N trong file âm thanh mẫu so sánh là của cùng một người nói ra.
  • Tiếng nói của người nam (Ký hiệu “Tài” trong “BẢN DỊCH NỘI DUNG”) trong 03 file âm thanh mẫu cần giám định (ký hiệu “A1”) và tiếng nói của Trần Văn T4 trong file âm thanh mẫu so sánh là của cùng một người nói ra.
  • Nội dung hội thoại trong 04 file âm thanh mẫu cần giám định đã được chuyển thành văn bản (“BẢN DỊCH NỘI DUNG” gồm 16 trang giấy A4).

* Tại Kết luận giám định số số 12/KL-KTHS ngày 16/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép nội dung hình ảnh trong 03 (ba) tập tin video cần giám định ký hiệu A, B, C. Tuy nhiên, không có cơ sở kết luận nội dung hình ảnh thông qua màn hình trình chiếu có cắt, ghép, chỉnh sửa hay không.
  • Không tiến hành giám định nội dung trích xuất hình ảnh các đối tượng thể hiện thông qua màn hình trình chiếu của 03 (ba) tập tin video cần giám định.
  • Trích xuất 20 (hai mươi) ảnh theo thời lượng trình chiếu thể hiện diễn biến nội dung trong 03 (ba) tập tin video cần giám định, in ra thành Bản ảnh trích xuất kèm theo kết luận giám định.

* Tại Kết luận giám định số 13/KL-KTHS ngày 20/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh T giám định ổ cứng máy vi tính, kết luận:

  • Ổ cứng nhãn hiệu Seagate cần giám định đang hoạt động ổn định và có dữ liệu lưu trữ bên trong
  • Không tìm thấy tài liệu văn bản thể hiện chung hai tên Huỳnh Thị Mộng C và Trần Thị Bạch T1 trong ổ cứng cần giám định.

* Trong quá trình điều tra bị can Huỳnh Thị Mộng C chưa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo chưa nộp khắc phục hậu quả. Bị cáo có tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên.

* Trong quá trình điều tra, thu giữ vật chứng và tài liệu liên quan chứng minh hành vi phạm tội:

  • 01 (Một) bản chính Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Huỳnh Thị Mộng C chuyển nhượng cho Hồ Thị Đ) ghi ngày 01/10/2020 và được UBND xã P vào sổ chứng thực 434, quyển số 01/2020 - SCT/HĐ,GD do đồng chí Nguyễn Tấn T2 - Chủ tịch UBND xã ký.
  • 01 (Một) tờ giấy bản gốc thể hiện: Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, lập ngày 12/9/2018 giữa ông Ngô Văn M, bà Ngô Thị X và bà Huỳnh Thị Mộng C đối với thửa đất số 983, tờ bản đồ số 3, diện tích 12.159,8m², số phát hành (H957565, số vào sổ cấp giấy CNQSDĐ CS01759, giá chuyển nhượng 1 tỷ 250 triệu. Bà X, ông M đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng, bên nhận tiền ký ghi họ tên Ngô Văn M, Ngô Thị X. Bên giao tiển ký ghi họ tên Huỳnh Thị Mộng C (tất cả các nội dung trong giấy đề được viết tay)
  • 01 (Một) giấy viết tay thể hiện hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Ngô Văn M, Ngô Thị X và Huỳnh Thị Mộng C vào ngày 12/9/2018.
  • Ba tài liệu có chữ (nhiều chữ rãi rác) ghi tên Ngô Thị X, Ngô Văn M, X, M....tài liệu có chữ ký tên Huỳnh Thị Mộng C.
  • 147 hồ sơ liên quan đến việc giải quyết đất và tài liệu khác.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone, số sêri FFWXD8LZKΡΗΜ, không có sim, I: 357262092214720 (không kiểm tra tình trạng bên ngoài và bên trong máy), qua quan sát thấy mặt sau (kiếng) có bị bể.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 (không kiểm tra tình trạng điện thoại).
  • 01 (Một) ổ cứng (thiết bị lưu trữ dữ liệu) trên máy tính bàn làm việc của Huỳnh Thị Mộng C, có ký hiệu Seagate ST500DM 002 (Đã giám định và được niêm phong).

Các dữ liệu điện tử gồm: 11 đoạn ghi âm cuộc gọi, tổng dung lượng 14lub các đoạn ghi âm được ghi vào tháng 12/2021 (Lưu trữ trong USB "Kingston"); 01 (Một) đĩa DVD có lưu file ghi âm giọng nói của Ngô Thị X; 01 (Một) đĩa DVD có lưu file ghi âm giọng nói của Huỳnh Thị Mộng C; 01 (Một) đoạn ghi hình và 01 (Một) đoạn ghi âm được sao chép vào 01 USB do Nguyễn Ngọc N cung cấp; 01 (Một) USB có chứa 06 đoạn ghi âm do Nguyễn Tấn T2 cung cấp; 02 (Hai) đoạn ghi hình và 03 (Ba) đoạn ghi âm được sao chép vào 01 đĩa CD, có ký hiệu “DLĐT T4” do Trần Văn T4 cung cấp; 01 (Một) đĩa ghi âm giọng nói của Trần Văn T4; 01 (Một) đĩa ghi âm giọng nói của Nguyễn Ngọc N (tất cả đã giám định và được niêm phong).

Xử lý đồ vật, tài liệu:Trao trả cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang 147 (Một trăm bốn mươi bảy) hồ sơ liên quan đến việc giải quyết đất và tài liệu khác (Các tài liệu được thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Huỳnh Thị Mộng C) để giải quyết theo thẩm quyền.

* Về trách nhiệm dân sự.

  • Ông Ngô Văn M và chị Ngô Thị X yêu cầu hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 983, từ bên chuyển nhượng là Ngô Văn M, Ngô Thị X cho bên nhận chuyển nhượng Huỳnh Thị Mộng C trả lại cho Ngô Văn M thửa đất số 983, tờ bản đồ số 3, diện tích 12.159,8m², địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (gọi tắt là thửa đất số 983) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) vào ngày 06/3/2017.
  • Bị hại Hồ Thị Đ yêu cầu: Tiếp tục nhận thửa đất số 983, tờ bản đồ số 3, diện tích 12.159,8m², địa chỉ: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang để tiếp tục canh tác.
  • Bị hại Trần Thị Bạch T1 yêu cầu cơ quan chức năng tiếp tục cấp giấy CNQSD đất cho T1 theo thửa đất số 203 mà T1 mua của C. Trường hợp cơ quan chức năng không cấp giấy CNQSD đất cho T1 thì yêu cầu C trả số tiền 1,7 tỷ đồng (trong đó tiền mua thửa đất số 203 là 1,5 tỷ đồng; tiền T1 cho mượn là 200 triệu đồng), lãi suất tính theo lãi suất ngân hàng.
  • Bà Nguyễn Thị Ú yêu cầu C giao thửa đất thửa đất số 203, tờ bản đồ số 10, diện tích 509,7m² tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C để tiếp tục canh tác.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Mộng C đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Mộng C 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự
  • - Hủy hợp các hợp đồng chuyển nhượng số 233 ngày 12/9/2018, số 434 ngày 01/10/2020, hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Huỳnh Thị Mộng C, Hồ Thị Đ đối với thửa đất số 983. Công nhận quyền sử dụng đất thửa số 983, tờ bản đồ số 03, diện tích 12.159,8 m², địa chỉ tại ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang cho ông Ngô Văn M.
  • - Tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giao cho bà Nguyễn Thị Ú được sử dụng thửa đất số 203, tờ bản đồ số 10, diện tích 509,7m² tại ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • - Buộc bị cáo Huỳnh Thị Mộng C hoàn trả cho:
  • + Bà Hồ Thị Đ 600.000.000đồng (sáu trăm triệu đồng)
  • + Bà Trần Thị Bạch T1 1.500.000.000đồng ( Một tỷ năm trăm triệu đồng)

Kề từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả tiền thì phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

  • - Ngày 09/8/2024, bị cáo Huỳnh Thị Mộng C kháng cáo kêu oan.
  • - Ngày 12/8/2024, bị hại Hồ Thị Đ, Trần Thị Bạch T1 kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo C, yêu cầu xác định vai trò của ông Nguyễn Tấn T2, Phan Tường T5 và tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 203 ngày 01/10/2020 do Ủy ban nhân dân xã P chứng thực giữa vợ chồng bị cáo C, ông T và bà Nguyễn Thị Ú.
  • - Ngày 14/8/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ú kháng cáo yêu cầu xem xét hành vi phạm tội của bị cáo C và ông Đặng Văn T; yêu cầu bị cáo C và ông Đặng Văn T liên đới trả cho bà Ú số tiền 870.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  1. Phần xét hỏi:
  1. Bị cáo Huỳnh Thị Mộng C kháng cáo kêu oan, không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới và trình bày: Bị cáo thực hiện các giao dịch đều hợp pháp. Tòa án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm tố tụng, chưa làm rõ được các tình tiết trong vụ án, cụ thể:
  • - Bị cáo đề nghị được giám định lại chữ ký và chữ viết của Ngô Văn M, Ngô Thị X tại Bộ C3 nhưng không được xem xét, do thực tế chỉ có một bản ký nhận giữa bị cáo và bị hại, tuy nhiên hồ sơ lại có 02 bản.
  • - Đối với giao dịch với ông M, bà X: Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất xuất phát từ việc ông M đã thế chấp để vay tiền bị cáo. Sau đó bị cáo đã mua mảnh đất này của ông M, bà X. Quá trình ký hợp đồng chuyển nhượng, do tin tưởng là hàng xóm nên bị cáo đã đưa hợp đồng chuyển nhượng cho ông M, bà X mang về nhà ký. Sau khi nhận lại hợp đồng bị cáo đã ra Ủy ban xã để chứng thực.
  • - Đối với giao dịch vơi bà Ú và bà T1: Bị cáo khẳng định bị cáo không biết về hợp đồng chuyển nhượng với bà T1 mà bị cáo chỉ ký với bà Ú. Trong suốt quá trình tố tụng, bà T1 không cung cấp được hợp đồng này. Do đó, không có căn cứ để cho rằng bị cáo lừa đảo bà T1.
  1. Bị hại bà Trần Thị Bạch T1 giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Vợ chồng bị cáo có ký hợp đồng chuyển nhượng với bà T1 tại xã P. Mặc dù không có biên nhận số tiền mà bị cáo đã nhận từ bà T1, nhưng có các video quay lại quá trình bà T1 đã chở bị cáo ra Ngân hàng để rút tiền. Ngoài ra, hợp đồng chuyển nhượng đã được nộp tại Văn phòng đăng ký đất đai và đã có phiếu hẹn để nhận Giấy chứng nhận.
  2. Bị hại bà Hồ Thị Đ giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông M, bà X cho bà với số tiền 2,4 tỷ đồng. Tuy nhiên, mảnh đất thực chất không phải là của bị cáo nên bà không được sử dụng mảnh đất này. Nay bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tăng nặng hình phạt với bị cáo và xem xét trách nhiệm của chồng bị cáo về hành vi đồng phạm.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ú giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về vai trò đồng phạm của ông Đặng Văn T và buộc vợ chồng bị cáo phải liên đới trả lại tiền cho bà.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị X và trình bày: Bà không mượn nợ gì của bị cáo, việc bà giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo là nhờ bị cáo làm thủ tục tặng cho giữa bà và ông M. Tuy nhiên, bị cáo đã gian dối làm giả chữ ký để lập hợp đồng giả chuyển nhượng cho bị cáo.
  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn T2 trình bày: Quá trình chứng thực các hồ sơ này, bị cáo là cán bộ tư pháp và được giao trách nhiệm về thủ tục công chứng, chứng thực. Theo quy trình và vì tin tưởng bị cáo nên ông đã ký xác nhận vào các hồ sơ này. Ông không biết và không có tư lợi gì trong vụ việc này và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
  6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T trình bày: Ông xác nhận có tham gia lập hợp đồng chuyển nhượng với bà Ú. Ông không biết về hợp đồng chuyển nhượng của bà Đ và bà T1. Ngoài ra, trong hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh ông có tham gia vào các hợp đồng chuyển nhượng của bà Đ và bà T1. Do đó, việc quy kết về hành vi đồng phạm đối với ông là không có căn cứ.
  1. Phần tranh luận
  1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
  • - Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nằm trong hạn nên cần xem xét theo quy định pháp luật.
  • - Về nội dung:
  • + Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo: Căn cứ hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng và các chứng cứ có tại hồ sơ xác định, mặc dù bị cáo C trong giai đọan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tế hành vi của Huỳnh Thị Mộng C thể hiện bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng của Ngô Văn M và Ngô Thị X bị cáo đã tự ý làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 983 từ ông M, sang tên Cầm và Cầm chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho bà Hồ Thị Đ, để chiếm đoạt bà Đ số tiền 600.000.000đ (Sáu trăm điệu đồng). Đồng thời, để chiếm đoạt số tiền 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm điệu đồng) của Trần Thị Bạch T1, C còn gian dối lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 203 mà Cầm đã chuyển nhượng trước đó cho Nguyễn Thị Ú. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo kêu oan nhưng không cung cấp tình tiết, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo.
  • + Xét nội dung kháng cáo tăng hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tất cả tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xử phạt bị cáo C 15 (mười lăm) năm tù là phù hợp nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt.
  • + Xét nội dung kháng cáo về đề nghị xem xét trách nhiệm đồng phạm của ông Nguyễn Tấn T2, ông Phan Trường T3, ông Đặng Văn T: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã làm rõ và kết luận về hành vi của các ông là không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo.

Từ các căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Phần đối đáp của luật sư Trần Ngọc Q bào chữa cho bị cáo trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, đánh giá khách quan vụ án, cụ thể:
  • - Đối với giao dịch giữa bị cáo và ông M, bà X: Tòa án cấp sơ thẩm chưa cho giám định lại chữ ký của ông M, bà X là không đúng quy định tố tụng hình sự, chưa đủ căn cứ để cho rằng bị cáo đã tự ý làm giả hợp đồng chuyển nhượng.
  • - Đối với giao dịch giữa bị cáo và Ú, bà T1: Tòa án chỉ căn cứ vào giấy xác nhận của ông Trần Văn T4 để cho rằng bị cáo có hành vi lừa đảo đối với bà T1 là không đủ căn cứ bởi không có hồ sơ chuyển nhượng giữa bị cáo và bà T1 để đối chứng chữ ký của hợp đồng. Bị cáo và chồng chỉ thừa nhận đã chuyển nhượng phần đất cho bà Ú.

Do đó, không đủ căn cứ để buộc tội bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy toàn bộ bản án để điều tra, xét xử lại.

  1. Phần đối đáp của luật sư Phạm Trọng Ê bảo vệ cho bị hại trình bày: hợp đồng đồng chuyển chuyển nhượng cho bà Đ đối với thửa đất số 983 với giá 600 triệu đồng là không hợp lý. Thực chất giá trị chuyển nhượng là 2.4 tỷ đồng. Giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là nhằm mục đích trốn thuế. Do vậy xác định bà Đ là người nhận chuyển nhượng ngay tình, cần công nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ. Hợp đồng chuyển nhượng thua đất 203 của bị cáo đối với bà T1 là hợp pháp, nên cần tiếp tục thực hiện hợp đồng và công nhận giao quyền sử dụng đất cho bà T1. Mặc khác đối với việc chuyển nhượng cho bà Ú là trái pháp luật vì khi ký kết không có bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, dó đó hợp đồng này bị vô hiệu.
  2. Phần đối đáp của luật sư Nguyễn Thị Ngọc C1 bảo vệ cho bà X trình bày: Lời của bị cáo cho rằng bà X nợ tiền bị cáo nên mới bán mảnh đất cho bị cáo là không có căn cứ. Bởi vì theo bản án của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, bị cáo C đang nợ tiền của bà X chưa trả. Mặt khác, giám định chữ ký đã xác định không phải chữ ký của bà X, ông M. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bị cáo với bà X, ông M và các hợp đồng khác liên quan.
  3. Phần đối đáp của luật sư Nguyễn Thị Á bảo vệ cho bà Ú trình bày: Tại phiên tòa bị cáo và chồng đều thừa nhận có giao dịch giữa bà Ú và vợ chồng bị cáo. Giao dịch này là hợp pháp nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.
  4. Đại diện Viện kiểm sát, luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật
  1. Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo bị oan. Kính mong Hội đồng xem xét để trả lại trong sạch của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Mộng C, bị hại Hồ Thị Đ, Trần Thị Bạch T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ú làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Huỳnh Thị Mộng C trong thời gian làm công chức Tư pháp - Hộ tịch xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang đã 02 lần lợi dụng sự tin tưởng của người khác, dùng các thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền các của bị hại.

Đối với vụ thứ nhất: Trong các ngày 01/10/2020 và 16/10/2020, tại xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Huỳnh Thị Mộng C lợi dụng sự quen biết với ông Ngô Văn M và bà Ngô Thị X, khi ông M đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo để nhờ làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất với con gái là bà X, bị cáo C đã tự ý làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 983 từ ông M, chị X sang tên Cầm và sau đó, C cùng chồng là ông Đặng Văn T làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho bà Hồ Thị Đ, để chiếm đoạt bà Đ số tiền 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng).

Trong vụ án này, cấp sơ thẩm chưa làm rõ vai trò giúp sức của ông T trong vụ việc và trách nhiệm bồi thường của ông T với bị hại vì giao dịch được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo C và ông T. Ngoài ra, cấp sơ thẩm chưa làm rõ hành vi của các cán bộ Ủy ban nhân dân xã P trong việc tiếp nhận hồ sơ, chứng thực các giao dịch cho Cầm trong vụ án có vi phạm pháp luật hay không và có trách nhiệm như thế nào đối với sự việc.

Đối với vụ thứ hai: Tòa án cấp sơ thẩm xác định, để chiếm đoạt số tiền 1.500.000.000đ (một tỷ năm trăm điệu đồng) của bà Trần Thị Bạch T1, bị cáo C gian dối lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 203 mà Cầm đã chuyển nhượng trước đó cho bà Nguyễn Thị Ú. Tuy nhiên, giữa bà T1 và bị cáo C không có giấy tờ biên nhận tiền, hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị làm mất. Trong khi đó, lời khai của bị cáo và bị hại về vấn đề này có sự mâu thuẫn. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo C đều khai bị cáo không nhận tiền của bà T1 mà chỉ xác định bị cáo có vay nợ tiền với bà Đ (mẹ của bà T1), số tiền 1.700.000.000 đồng. Bà T1 trình bày bà giao tiền cho bị cáo toàn bộ là tiền mặt. Do vậy, cần làm rõ các chứng cứ về việc bị cáo nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà T1 việc giao nhận tiền diễn ra như thế nào, có ai chứng kiến hay không, số tiền mặt giao nhận có mệnh giá, số lượng như thế nào, có những ai nhìn thấy bị cáo cầm bọc tiền ... để có cơ sở xác định chính xác số tiền bị cáo chiếm đoạt và trách nhiệm bồi thường cho người bị hại.

Ngoài ra, đối với vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giao cho bà Nguyễn Thị Ú được sử dụng thửa đất số 203, tờ bản đồ số 10, diện tích 509,7m² tại ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang là vượt quá thẩm quyền của Tòa án trong vụ án theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tiếp tục thực hiện giao dịch là ý chí của những người tham gia giao dịch, nếu quá trình thực hiện, phát sinh tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Như vậy, việc điều tra, xét xử của cấp sơ thẩm chưa đầy đủ, chưa đảm bảo giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật. Do vậy, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cần hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại vụ án. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[3] Do hủy án sơ thẩm nên bị cáo và những người tham gia tố tụng có yêu cầu kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 355, Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Xử:

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Mộng C, bị hại bà Hồ Thị Đ, bị hại bà Trần Thị Bạch T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ú.
  2. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
  3. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang điều tra lại vụ án theo quy định pháp luật.
  4. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Mộng C; các bị hại Hồ Thị Đ, Trần Thị Bạch T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ú không phải chịu án phí phúc thẩm.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Duyên

Nguyễn Văn Hùng

Bùi Thị Thu

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh Tiền Giang; (2)
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang; (1)
  • - Công an tỉnh Tiền Giang; (1)
  • - Bị cáo tại ngoại; (1)
  • - Bị hại, NLQ; (8)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; (1)
  • - Cục THADS tỉnh Tiền Giang; (1)
  • - Lưu: VP, HS (ĐTM) (6)- 23b.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 451/2025/HS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 451/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Mộng C, bị hại bà Hồ Thị Đ, bị hại bà Trần Thị Bạch T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ú. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang điều tra lại vụ án theo quy định pháp luật.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger