|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 451/2024/DSPT Ngày: 28 - 10 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng hợp tác" |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan |
| Các Thẩm phán: | Bà Võ Bích Hải; |
| Bà Nguyễn Thị Trang Thư. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 24 và 28 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng hợp tác”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DS – ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai bị bị đơn kháng.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 391/2024/QĐPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1985; (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1962; (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1956; địa chỉ: Số I, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Trung Hoàng T2, sinh năm 2005; địa chỉ: Số I, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Lê Văn T1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn D trình bày và yêu cầu:
Nguyên vào ngày 05/8/2020, ông và ông Lê Văn T1 có lập hợp đồng ăn chia trồng 60 cây sầu riêng và 120 cây mít thái trên diện tích 3.549m², thời gian hợp đồng là đến hết tuổi đời cây sầu riêng, phương thức ăn chia: Bên ông Lê Văn T1 có đầu tư cây giống, đất, phân thuốc được hưởng 70% hoa lợi trồng sầu riêng, còn bên ông Nguyễn Văn D đầu tư công lao động được hưởng 30% hoa lợi trồng sầu riêng. Thời gian hợp đồng ăn chia đến nay được 03 năm, ông T1 lại yêu cầu ông phải đầu tư phân thuốc mới được chia 30% hoa lợi sầu riêng, ông không đồng ý vì ông T1 đã làm trái hợp đồng nên ông T1 có làm đơn gửi Tổ Hòa giải ấp Định Khánh B tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Nay ông yêu cầu ông Lê Văn T1 trả các khoản tiền sau:
- + Tiền chăm sóc sầu riêng bao gồm: đắp bầu, đổ sìn, tưới, phát cỏ, rải phân, xịt thuốc... 7.000.000 đồng/ tháng, 36 tháng là 252.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi hai triệu đồng).
- + Tiền sửa chữa máy móc 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Tổng cộng là 262.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi hai triệu đồng).
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng T trình bày và yêu cầu:
Nguyên vào ngày 05/8/2020, ông và ông Lê Văn T1 có lập hợp đồng ăn chia trồng 60 cây sầu riêng và 120 cây mít thái trên diện tích 3.549m², thời gian hợp đồng là đến hết tuổi đời cây sầu riêng, phương thức ăn chia: Bên ông Lê Văn T1 có đầu tư cây giống, đất, phân thuốc được hưởng 70% hoa lợi trồng sầu riêng, còn bên gia đình ông Nguyễn Văn D, Nguyễn Hoàng T đầu tư công lao động được hưởng 30% hoa lợi trồng sầu riêng. Thời gian hợp đồng ăn chia đến nay được 03 năm, ông T1 lại yêu cầu ông phải đầu tư phân thuốc mới được chia 30% hoa lợi sầu riêng, ông không đồng ý vì ông T1 đã làm trái hợp đồng nên ông T1 có làm đơn gửi Tổ Hòa giải ấp Định Khánh B tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Nay ông yêu cầu ông Lê Văn T1 trả tiền chăm sóc sầu riêng bao gồm: đắp bầu, đổ sìn, tưới, phát cỏ, rải phân, xịt thuốc ...làm cho ông T1 5.000.000 đồng/ tháng, 18 tháng là 90.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Lê Văn T1 trình bày:
Ông có phần đất diện tích 3.627,7m² tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Ngày 05/8/2020 ông có lập hợp đồng giấy tay với ông Nguyễn Văn D thỏa thuận như sau: Trên phần đất có trồng 120 cây mít và 61 cây sầu riêng. Khi thu hoạch mít bán ra lấy tiền đầu tư lại cho mít, về sầu riêng nếu thiếu tiền thí ông xuất vốn đầu tư tiếp tục, nếu thừa thì chia 7-3, ông được 7, ông D được 3. Nhưng
kỹ thuật cắt tỉa cành trái kém và giá mít thấp nên hai bên thống nhất cắt mít bỏ và ông phải đầu tư phân thuốc 4 năm đến lúc đó hai bên quyết để trái thì bên ông đầu tư phân thuốc 7 phần, ông D đầu tư phân thuốc 3 phần. Đến khi thu hoạch trái bán ra, trừ vốn nếu thừa thì chia 7-3, ông 7 phần, ông D được 3 phần.
Trong quá trình thực hiện, ông D không thực hiện đúng như: phả mặt bờ và đường nước ra vào cống nên ông có nhắc nhở nhiều lần. Đến ngày 20/7/2023 ông D tự bỏ vườn không chăm sóc, để sâu đục thân làm hư 05 cây sầu riêng. Đến ngày 29/7/2023 tại buổi hòa giải của Tổ hòa giải ấp Thới Bình A, xã T, huyện T, hai bên thỏa thuận đồng ý như sau: Ông T1 tiếp tục đầu tư phân thuốc 4 năm, hai bên đã thỏa thuận để trái, ông D tiếp tục quản lý vườn. Khi để trái, ông D bỏ vốn đầu tư 3 phần, ông T1 bỏ vốn 7 phần, khi bán lãi thì chia 7-3, ông T1 7, ông D 3. Đến ngày 10/8/2023, tại buổi hòa giải của Tổ hòa giải ấp Đ, xã Đ, huyện T, hai bên thỏa thuận đồng ý như sau: Bên ông T1 cung cấp phân thuốc đến khi cây ra bông, hai bên bỏ vốn ông T1 7 phần, ông D 3 phần. Sau khi thu hoạch xong thì chia 7/3, ông T1 7, ông D 3. Sau khi thu hoạch, phục hồi cây, bên ông T1 phải chịu phần phân thuốc, bên ông D ra công để phục hồi cây, tiếp tục năm sau. Đến ngày 05/10/2023, ông D tiếp tục làm đơn yêu cầu đòi tiền công lao động 500.000 đồng tiền xăng cho mỗi tháng nên hòa giải không thành. Ông yêu cầu ông D giao vườn lại vì bỏ lâu quá hư cây trồng. Đến ngày 07/8/2023, ông Phan Văn K là trưởng ấp Đ, xã Đ điện thoại kêu ông vào nhận vượn. Trong 3 năm ông D trồng mướp, đậu, bắp, cá trong ao đã hưởng lợi nhiều. Việc ông D tưới nước, ốp mô 02 lần, phả bùn 01 lần, ông có hỗ trợ cho ông D 2.000.000 đồng. Lúc đầu ông D tưới nước cho cây sầu riêng, ông có hỗ trợ tiền xăng 200.000 đồng/ tháng. Khi mua máy phun bét ông chuyển sang hỗ trợ 100.000 đồng/ tháng.
Đối với yêu cầu của ông D, ông không đồng ý số tiền yêu cầu của ông D, ông chỉ đồng ý hỗ trợ cho ông D 25.000.000 đồng là tiền công chăm sóc trong 03 năm. Đối với yêu cầu của ông T, ông không đồng ý vì ông T không làm gì trong việc chăm sóc, đầu tư vào vườn. Đối với Lê Trung Hoàng T2 không liên quan gì trong vụ việc này.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn giữ nguyên ý kiến trình bày.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử nên đề nghị rút kinh nghiệm.
- + Về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn, bị đơn đã được xem xét, đối chiếu với các quy định của pháp luật, nhận thấy có căn cứ xác định ngày 05/8/2020, ông Lê Văn T1 và ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Hoàng T có thỏa thuận hợp tác, ông T1 có đất, đầu tư phân, thuốc, 120 cây mít thái, 60 cây sầu riêng; ông D, ông T quản lý, chăm sóc, tưới tiêu, kỹ thuật. Khi có lợi nhuận từ sầu riêng thì ông T1 được 7 phần, ông D và ông T được 3 phần. Đến khoảng tháng 7/2023 hai bên xảy ra mâu thuẫn đã được Tổ hòa giải ấp T, xã T và Tổ hòa giải ấp Đ, xã Đ tiến hành hòa giải nhưng không thành nên dẫn đến chấm dứt hợp đồng.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Hoàng T là có căn cứ để chấp nhận một phần. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị định số 90/2019/NĐ-CP ngày 15/11/2019 của Chính phủ quy định mước lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, áp dụng mức lương cơ sở thuộc vùng III là 3.430.000 đồng/ tháng. Công sức đóng góp của ông Nguyễn Văn D là 3.430.000 đồng/ tháng x 36 tháng = 123.480.000 đồng. Công sức đóng góp của ông Nguyễn Hoàng T là 3.430.000 đồng/ tháng x 18 tháng = 61.740.000 đồng.
Yêu cầu khởi kiện của ông D đối với số tiền 10.000.000 đồng tiền sửa máy là không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và thời hạn yêu cầu thi hành án của các đương sự.
Không đồng ý với bản án nêu trên, bị đơn có đơn kháng cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp thêm chứng cứ mới
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
- Về hình thức kháng cáo: vụ án được xét xử ngày 02/5/2024, đến ngày 15/5/2024 ông T1 kháng cáo. Như vậy, kháng cáo trong thời hạn luật định nên hợp
lệ về mặt hình thức.
- Về nội dung kháng cáo, nhận thấy: theo hợp đồng được các bên ký kết ngày 05/8/2020 thể hiện, ông T1 có phần đất diện tích 3.549m² trồng 120 cây mít thái, 60 cây sầu riêng. Ông T1 có đất, cây giống, thuốc, phân; ông D và ông T quản lý chăm sóc, tưới tiêu, kỹ thuật; thống nhất phân chia 7/3, ông T1 7, ông D và ông T 3; thời gian chấm dứt hợp đồng đến hết tuổi đời của cây sầu riêng. Cuối hợp đồng có chữ ký, ghi họ tên Lê Văn T1, Nguyễn Văn D, Nguyễn Hoàng T.
Tại biên bản xác minh ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, ông K (Trưởng ấp) trình bày, ông D, ông T, ông T1 thỏa thuận ông T1 giao đất và 120 cây mít, 61 cây sầu riêng cho ông T, ông D chăm sóc, ông T1 đầu tư phân thuốc. Sau đó, ông T1 yêu cầu ông D, ông T đầu tư thêm phân thuốc nhưng ông D, ông T không đồng ý. Ông gặp ông D, ông T động viên nếu không tiếp tục thực hiện như thỏa thuận ban đầu thì nên giao đất cùng cây trồng để ông T1 chăm sóc thì ông D đồng ý. Ngày 07/8/2023, ông điện thoại kêu ông T1 nhận lại đất, ông T1 lấy lại đất có sự đồng ý của ông D, ông T.
Như vậy, căn cứ hợp đồng và kết quả xác minh tại địa phương, có cơ sở để xác định, giữa ông T1 với ông D, ông T có sự hợp tác về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Theo đó, ông T1 giao đất, cây trồng trên đất và đầu tư phân thuốc, ông D và ông T chăm sóc cây trồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, do không thống nhất về công việc của mỗi bên nên phát sinh tranh chấp, xét thấy:
Căn cứ Điều 512 Bộ luật Dân sự quy định, hợp đồng hợp tác chấm dứt trong trường hợp sau đây: “...Theo thỏa thuận của các thành viên hợp tác...”, “...Trường hợp các khoản nợ đã được thanh toán xong mà tài sản chung vẫn còn thì được chia cho các thành viên hợp tác theo tỷ lệ tương ứng với phần đóng góp của mỗi người, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Do các bên đã chấm dứt hợp đồng hợp tác, cây trồng trên đất chưa đến mùa thu hoạch, nên không thể cấn trừ chi phí để phân chia lợi nhuận tương ứng với công sức đóng góp của mỗi bên cũng như theo thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng. Thực tế, ông D đã quản lý chăm sóc cây trồng, ông T1 nhận lại đất cùng cây trồng và hưởng sản phẩm khi thu hoạch. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của các bên, cần buộc ông T1 trả tiền công cho ông D trong thời gian quản lý chăm sóc như cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp.
Đối với ông T, tại phiên tòa, ông D và ông T xác định 30% lợi nhuận là phần của ông D, ông T. Như vậy, lợi nhuận được phân chia là lợi nhuận chung, nên công sức chăm sóc quản lý cây trồng của ông D đã bao gồm công sức của ông T. Mặt khác, ông T không chứng minh được thời gian tham gia chăm sóc cây trồng cùng ông D. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông T1 trả công cho ông T với số tiền 61.740.000 đồng là chưa phù hợp.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông T1, sửa một phần Bản án số 46/2024/DSST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, ông Lê Văn T1. Căn cứ vào đơn kháng cáo và lời trình bày của bị đơn tại phiên tòa xác định bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử hủy bản án dân sự sơ thẩm do vi phạm về nội dung giải quyết vụ án, bị đơn không đồng ý bồi thường cho các nguyên đơn do không có căn cứ nào chứng minh về việc bị đơn có lỗi trong quá trình hợp tác với ông Nguyễn Văn D.
[2] Xét thấy, căn cứ vào “tờ hợp đồng” ngày 05/8/2020 và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận hợp tác về việc trồng cây sầu riêng. Trong đó, ông T1 hùn đất, mua phân bón, cây giống và hưởng lợi 70% lợi nhuận từ việc bán trái sầu riêng. Ông D, ông T góp sức vào việc tưới tiêu, chăm sóc, kỹ thuật trồng cây và được hưởng 30% lợi nhuận từ việc bán trái sầu riêng. Quá trình hợp tác đến tháng 7/2023 giữa 02 bên phát sinh mâu thuẫn dẫn đến chấm dứt việc hợp tác.
[3] Về nguyên nhân dẫn đến chấm dứt hợp tác, nguyên đơn cho rằng do ông T1 yêu cầu phía nguyên đơn phải đầu tư thêm phân bón để cây cho trái. Ông T1 thì cho rằng do ông D yêu cầu ông phải đưa thêm 500.000 đồng hàng tháng để đổ xăng cho máy bơm nước tưới cây. Mâu thuẫn giữa các bên đã được hòa giải tại Tổ hòa giải ấp T, xã T ngày 29/7/2023 và đã đạt được thỏa thuận, cụ thể ông D và ông T1 đồng ý khi xuất vốn đầu tư cây có trái đến khi thu hoạch, trừ tiền vốn đầu tư của 02 bên còn lời thì chia 7/3 ông T1 07 phần, ông D 03 phần. Nhận thấy, yêu cầu của các bên đưa ra đều không đúng với hợp đồng, tuy sau đó có thỏa thuận lại nhưng các bên đều không thực hiện đúng thỏa thuận mới, đến ngày 07/8/2023 ông D điện thoại kêu ông T1 nhận lại đất, ông T1 lấy lại đất có sự đồng ý của ông D, ông T. Do đó lỗi dẫn đến chấm dứt hợp tác đều xuất phát từ 02 bên;
[4] Quá trình giải quyết các bên đương sự thừa nhận, tại thời điểm chấm dứt hợp tác, sầu riêng chưa có thu hoa lợi nên các bên không thể chia lợi nhuận theo thỏa thuận của hợp đồng và thực tế, từ khi ký hợp đồng đến khi chấp dứt hợp tác ông D đã góp công sức vào việc quản lý, chăm sóc cây trồng. Mặt khác, khi chấm dứt hợp tác ông T1 nhận lại đất thì cây trồng ông D chăm sóc đã lớn sắp có thu hoạch nên ông T1 là người được hưởng lợi. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm, tuyên buộc ông T1 trả tiền công cho ông D trong thời gian quản lý chăm sóc là phù hợp. Tuy nhiên, theo thỏa thuận của hợp đồng và tại phiên tòa, ông D và ông T xác định 30% lợi nhuận là phần của ông D, ông T. Như vậy, lợi nhuận được phân chia là lợi nhuận chung, nên công sức chăm sóc quản lý cây trồng của ông D đã bao
gồm công sức của ông T. Cấp sơ thẩm, tính tỷ lệ đóng góp 30% của riêng từng cá nhân ông D, ông T và buộc ông T1 có trách nhiệm trả cho ông T 61.740.000 đồng là chưa phù hợp cần điều chỉnh lại như đã nhận định trên.
[5] Từ những nhận định trên cho thấy, yêu cầu kháng cáo của ông T1 là có cơ sở chấp nhận một phần.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn T1 không phải chịu do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T1.
- Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DS – ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D và ông Nguyễn Hoàng T.
- Buộc ông Lê Văn T1 trả cho ông Nguyễn Văn D và ông Nguyễn Hoàng T 123.480.000 đồng (Một trăm hai mươi ba triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đếnkhi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiềncòn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Văn T1 được miễn nộp án phí sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn D được miễn nộp án phí sơ thẩm.
Ông Nguyễn Hoàng T phải chịu 1.413.000 đồng (Một triệu bốn trăm mười ba nghìn đồng) án phí sơ thẩm, được khấu từ 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0005427
ngày 12/10/2023 nên được nhận lại 837.000 đồng (T3 trăm ba mươi bảy nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
Bản án số 451/2024/DSPT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng hợp tác
- Số bản án: 451/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Truyện - Thức - T/c HĐ hợp tác
