Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 451/2024/DS-PT

Ngày: 12/7/2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Bà Trần Thị Liên Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Phương Lan, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 09 và 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2024/TLPT-DS ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 15/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 301/2024/QĐ-PT ngày 17/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 395/2024/QĐ-PT ngày 01/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đào Văn N, sinh năm 1948

Địa chỉ: Đ, thôn Y, xã D, G, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị Thanh T.

( Có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1959

Địa chỉ: Đ, thôn Y, xã D, G, Hà Nội.

( Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1953
    Địa chỉ: Số nhà B ngách A xóm T, thôn Y, xã D, huyện G, Hà Nội.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông Đào Văn N, bà Nguyễn Thị P: Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Đ, thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. ( Có mặt).
  3. Ông Đào Văn H, sinh năm 1975
  4. Anh Đào Phú M, sinh năm 2000
  5. Cháu Đào Thúy V, sinh ngày 19/4/2005
  6. Cháu Đào Ngọc D1, sinh ngày 27/12/2017
    Người đại diện theo pháp luật của cháu Đào Ngọc D1 là: Bà Nguyễn Thị Thanh T1 và ông Đào Văn H. ( Có mặt bà T, vắng mặt ông H)
  7. Bà Đào Thị T2, sinh năm 1963. ( Có mặt).
  8. Anh Nguyễn Quý Đ, sinh năm 1992. ( Vắng mặt)
  9. Chị Dương Thị Xuân Đ1, sinh năm 1995 và cháu Nguyễn Ánh H1 Ban sinh năm 2023. Cháu B do anh Đ chị Đ1 là người đại diện theo pháp luật.
  10. Chị Nguyễn Thị D2, sinh năm 1986
  11. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1988
    Cùng ở địa chỉ: Số nhà A, đội D, thôn Y, xã D, G, thành phố Hà Nội. ( Có mặt)
  12. Anh Trần Công An P1, sinh năm 2012
  13. Cháu Trần Công Gia H2, sinh năm 2019
    Cùng địa chỉ: Đ thôn Y, xã D, G, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật của cháu P1 và cháu Gia H2 là chị Nguyễn Thị T3. ( Có mặt).
  14. Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1952
    Địa chỉ: Thôn Y, xã D, G, Hà Nội. ( Có mặt).
  15. Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1973
    Địa chỉ: Đ, thôn Y, xã D, huyện G, Hà Nội.
    ( Có mặt).

* Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đào Văn L:

  1. Anh Đào Vĩnh P2, sinh năm 1977
    Địa chỉ: Đ, thôn Y, xã D, huyện G, Hà Nội.
    ( Vắng mặt).
  2. Chị Đào Thanh B1, sinh năm 1980
    Địa chỉ: Số nhà C, ngõ A N, phường P, quận T, Hà Nội. ( Vắng mặt).
  3. Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1952
    Địa chỉ: Thôn Y, xã D, huyện G, Hà Nội.
    ( Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Thửa đất số 40 tờ bản đồ số 28 thôn Y, xã D, huyện G, Thành phố Hà Nội là của tổ tiên ông bà để lại cho ông N. Ông N ăn ở sinh sống tại thửa đất này từ lúc 7 tuổi cho đến nay. Khi ông N còn nhỏ thì chỉ là vườn trồng xoan, củ bột. Khoảng năm 1970, bố mẹ ông xây nhà cấp 4 và gia đình ông ở đây. Còn thửa số 34 không có ai ở. Cũng năm gia đình ông làm nhà, cụ N2 sang bảo mẹ con ông cho đi nhờ hướng N, mẹ ông không cho đi nhờ, nhưng ông nói với mẹ ông là sau mẹ chết thì anh em còn sống với nhau, chú ruột sang nói thì ông cho đi nhờ. Lúc cụ N2 đi nhờ thì ông không nhớ năm nào cụ N2 xây cổng. Khi cụ N2 bán đất cho gia đình ông bà Dung Thoan ông không biết việc mua bán như thế nào, bán cổng như nào. Khi nhà ông bà Dung T4 cải tạo thêm cổng, ông không cản trở việc xây cổng của ông D vì nghĩ họ đi nhờ ngõ, làm cổng để giữ an ninh, chứ phần ngõ vẫn thể hiện trên bản đồ nhà ông nên vẫn là đất của ông. khoảng năm 1990 khi nhà ông bà Dung T4 xây chuồng lợn chuồng vịt, tôi đã yêu cầu dỡ bỏ thì nhà ông bà Dung T4 cũng đã dỡ bỏ chuồng lợn chuồng vịt đi nhưng sau họ cứ mỗi ngày xây một chút, vì phần đất đó là phía bên trái của ngôi nhà nhà ông nên không biết việc gia đình ông D, bà T4 xây dựng, khi biết gia đình ông D, bà T4 xây dựng ông đã ra báo với chính quyền địa phương, UBND xã đã giải quyết nhưng gia đình ông D, bà T5 vẫn cố tình xây dựng. Năm 1999 gia đình ông xây nhà như hiện nay. Việc gia đình ông cho đi nhờ không có văn bản giấy tờ gì. Ông chỉ cho cụ N2 đi nhờ, giờ cụ N2 bán đất cho gia đình ông D, bà T4 thì ông không đồng ý cho đi nhờ nữa. Hiện trên phần ngõ đi nhờ có 2 lớp cổng, công trình phụ nhà ông D tại đó, nồi niêu xoong chảo, đun nấu tại đó, có 1 nhà tắm.

Nay ông đề nghị gia đình ông D, bà T4 phải trả lại cho ông phần đất đã lấn chiếm của gia đình ông và buộc gia đình ông D, bà T4 phải tháo dỡ các công trình đã xây dựng trên phần diện tích đất lấn chiếm này để trả lại đất cho gia đình ông.

Trên phần đất tranh chấp phía nhà tôi có tôi là Đào Văn N, vợ tôi là Đào Thị P3, sinh năm 1953, hai vợ chồng con trai tôi là Đào Văn H, sinh năm 1975, Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1973, cùng các cháu Đào Phú M, sinh năm 2000 (hiện đang thực hiện nghĩa vụ bộ đội tại T- Bộ), cháu Đào Thúy V, sinh ngày 19/4/2005, cháu Đào Ngọc D1, sinh ngày 27/12/2017. Ngoài ra không còn ai khác sinh sống tại đây.

*Bị đơn ông Nguyễn Văn D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đào Thị T2 thống nhất trình bày:

- Về quan hệ gia đình của nhà ông và nhà ông N đúng như ông N trình bày, ông không có ý kiến gì. Ông bà là cháu nội cụ N2. Cụ N2 và bố ông N là hai anh em ruột.

- Về phần đất đang tranh chấp: ông bà không biết cụ N2 với gia đình ông N trao đổi, cho mượn đất với nhau như thế nào. Ông bà chỉ biết năm 1989 vợ chồng ông bà mua lại thửa đất này của cụ N2 và ông L ( con cụ N2), khi đó cụ N2 và ông L đã bán cho gia đình ông bà cả phần diện tích ngõ đi này, khi đó phần ngõ đi đã có cổng sẵn. Việc mua bán giữa ông bà và cụ N2 có lập hợp đồng viết tay. Sau khi mua gia đình ông bà đã về ở trên đất và quản lý, sử dụng phần đất ngõ này từ 01/01/1989 (ngày mua của cụ N2 ông L). Năm 1990, ông N có gọi ông L về giải quyết ngõ đi, khi ông L về thì có bà Đ2, bà B2, bà M1, ông D3 đều là bậc trên của chúng tôi chứng kiến, khi đó ông N và các bà có nói với ông D là các cụ cho cậu ngõ đi chứ không cho để làm chuồng lợn, chuồng vịt, và yêu cầu ông dỡ chuồng lợn, chuồng vịt về và ông đã dỡ hết chuồng lợn chuồng vịt về. Ông có hỏi các bà, ông D3, ông N là “ngõ đi của cháu đến đâu” thì ông D3, ông N thống nhất cắm cái “cọc” cho ông và ngay sau đó ông mua luôn vật liệu về xây cổng và buồng tắm, bể nước, đổ bê tông. Gia đình ông sinh hoạt, sử dụng ổn định phần diện tích ngõ đi này từ năm 1990 đến năm 2019 thì xảy ra tranh chấp. Hiện nay bà Đ2, bà B2, bà M1 ông D3 đều đã chết. Việc này không lập văn bản giấy tờ gì, chỉ nói miệng với nhau. Việc gia đình ông bà sử dụng phần ngõ đi này từ trước cho đến nay dân làng ai cũng biết. Từ trước đến nay ông bà nộp thuế đất 166,6m2 đất ông bà sẽ xuất trình các hóa đơn thuế và thông báo thuế cho Tòa án.

Đối với ngôi nhà bê tông của vợ chồng tôi xây dựng thì chúng tôi xây móng thẳng đứng đúng trong phần đất 140m2 của chúng tôi, móng nhà không sang phần đất ngõ đang tranh chấp. Cống của nhà tôi chạy dọc cạnh nhà bê tông, chảy ra hướng Nam nằm trên phần đất ngõ đang tranh chấp. Phần cống nhà ông N cũng đang nằm trên phần đất ngõ đang tranh chấp. Cống nhà ông N xây dựng khoảng năm 2019, ông N xây cống vào phần ngõ của nhà tôi là khi nhà tôi đưa con gái đi viện mấy ngày thì nhà ông N trèo vào xây cống trên phần ngõ nhà tôi vì lúc đó nhà ông N đang xây nhà, khi nhà tôi về thì đã thấy rồi. Cống này hiện gia đình ông N vẫn đang sử dụng là cống nước thải của gia đình ông N. Cống rộng khoảng 30cm, cao khoảng 40-50cm, trên mặt cống có nắp bê tông. Trên phần nắp cống của nhà ông N thì nhà tôi có để các khúc gỗ bên trên nắp cống. Khi biết ông N xây cống trên phần ngõ của nhà tôi thì tôi cũng không đơn thư ra chính quyền giải quyết, không đơn thư đến cơ quan nào giải quyết việc này.

Hiện nay, trên phần đất tranh chấp phía nhà tôi có vợ chồng ông bà, các con là anh Nguyễn Quý Đ, sinh năm 1992, chị Dương Thị Xuân Đ1 sinh năm 1995, cháu Nguyễn Ánh Hoa B3, chị Nguyễn Thị D2, sinh năm 1986, chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1988, cùng các cháu của tôi là Trần Công An P1, sinh năm 2012, cháu Trần Công Gia H2, sinh năm 2019 đang sinh sống. Ngoài ra, không còn ai khác sinh sống tại đây.

Nay, quan điểm của vợ chồng ông bà gia đình ông bà mua bán đất của cụ N2 và ông L chứ không liên quan gì với gia đình ông N, việc ông N và ông L đã giải quyết, thống nhất ngõ đi từ trước khi ông bà mua cho tới nay. Ông bà yêu cầu Tòa án bác bỏ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị N1 trình bày:

- Về quan hệ gia đình: bà và ông Đào Xuân L1 ( Con trai của cụ N2) kết hôn với nhau năm 1971 và sinh được 03 người con là anh Đào Hồng L2, sinh năm 1974 (đã chết năm 2008), anh Đào V, sinh năm 1977 và chị Đào Thành B4, sinh năm 1980.

- Về nguồn gốc đất: Sau khi kết hôn vợ chồng bà về ở tại thửa đất của ông D, bà T2 đang sinh sống hiện nay. Trên đất có một nhà cấp 4, chiều dài 8,5m, chiều rộng là 5m, nhà xây kịch chiều ngang đất hướng Nam, lối đi ra đường là ngõ hiện đang tranh chấp. Trước đây thì ngôi nhà này ngoài lối đi này không còn đường nào đi nào khác để ra được đường làng.

Bà T2 vợ ông D là con gái của anh ruột ông L1, bà T2 kết hôn với ông D năm 1988. Do không có nhà ở nên ông L1 và cụ N2 là mẹ của ông L1 đã quyết định bán ngôi nhà này cho ông D, bà T2 với giá là 01 tấn 09 tạ thóc (lấy thóc không thanh toán bằng tiền). Hai bên có viết giấy mua bán cho nhau, hiện giấy đó do ông D giữ. bà không có giấy tờ, văn bản gì xuất trình cho Tòa án. Đến nay, bà và các con bà không còn bất cứ văn bản, giấy tờ gì liên quan đến ngôi nhà và thửa đất này nữa để xuất trình với Tòa án. Theo bà được biết đất là của các cụ để cho cụ N2 và cụ N2 đã cho ông L1 (cụ N2 đã chết năm 1990, ông L1 chết năm 2003). Sau khi bán cho ông D thì nhà ông D quản lý, sử dụng ngôi nhà và mảnh đất này từ đó cho đến nay. Khi bà ở đó thì gia đình bà không có tranh chấp gì với nhà ông N. Đến nay việc tranh chấp giữa nhà ông N với nhà ông D, bà T2 bà không có liên quan gì và không có tài liệu gì xuất trình cho Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1 cũng người đại diện theo ủy quyền của ông N bà P3 trình bày: Về quan hệ xã hội của ông N và ông D như sau: Bố bà ông Đào Văn N và cụ Đào Văn D4, bà không nhớ năm sinh, cụ mất năm 1964. Cụ D4 có em ruột là Đào Văn T6 (đã chết). Bà Đào Thị T2 là cháu nội của cụ T6. Nguồn gốc đất nhà ông D hiện đang sử dụng như sau: Cụ B5 có 1 thửa đất 280m2 giáp nhà bà. Theo bà được biết vợ chồng cụ Ngổ T7 có mua lại của cụ B5 ½ mảnh đất diện tích 140m2 giáp phần đuôi hướng Bắc nhà ông N, chính là phần ông D bà T2 đang quản lý sử dụng. Do thửa đất đó có 1 mặt hướng Bắc quay ra đường làng to hiện nay xưa kia đường này là cống to của làng, các nhà quay hướng ra đó thì phải bắc cầu đi ra hướng đó, mãi sau này thì mới đổ nhựa bê tông lên thành đường to như hiện nay. Truyền thống xa xưa các cụ hay mở cổng đi hướng Nam tức hướng nhà ông N, thì khoảng năm 1974, mẹ con bà N2 sang nhờ ông N mở ngõ đi nhờ về hướng N. Vì vợ chồng cụ N2 và ông N có họ hàng gần với nhau, cụ Nguyễn Thị K là mẹ đẻ ông N không cho đi nhờ, nhưng ông N nói với cụ K là sau mẹ chết thì anh em con sống với nhau, nên ông N cho đi nhờ. Nhưng khi ông N cho đi nhờ thì cụ K luôn nói: “ở thì mới cho đi, còn bán thì không cho đi nữa”. Sau khi ông N đồng ý cho đi nhờ bằng miệng thì gia đình nhà bà N2 đi nhờ trên phần đất của nhà ông N. Do cho đi nhờ nên nhà cụ N2 phải xây cổng để bảo vệ tài sản của họ, ông N cũng đồng ý. Sau cụ N2 bán đất cho ông D thì nhà ông D có xây thêm lớp cổng thứ hai như thế nào thì nhà ông N không biết vì hai bên cách nhau bởi bức tường nhà ông N nên không thể để ý hàng ngày được.

Quan hệ huyết thống nhà bà Ngổ T7 có 4 người con: Ông C, bà L3, ông L1, bà L4. Ông C có vợ tên H3 sinh được 5 người con bà H4, bà H5, bà T2, ông T8, ông K1.

Năm 1989 cụ N2 chết, trước khi cụ N2 chết thì cụ N2 có bán cho cháu nội là bà T2 phần đất này, khi cụ N2 bán cho nhà ông D bà T2 thì cụ N2 không nói với gia đình bà. Khi gia đình ông D bà T2 về ở thì biết cụ N2 bán đất. Từ năm 1989 khi ông D bà T2 ra ở trên thửa đất mua của cụ N2 thì vẫn đi nhờ trên phần đất thừa của ông N không xây hết, phần đường đi ông N cho ông D đi nhờ có diện tích khoảng 20m2, chiều rộng 1,8m, chiều dài khoảng 11m. Đến năm 1999 ông N xây nhà ông đã không cho đi qua đất của ông N nữa và sau đó gia đình nhà Dung T4 có mở cổng quay ra hướng Bắc đi, còn phần ngõ đi hướng Nam thì nhà ông D bà T4 sử dụng để đun nấu, để xoong nồi và xây 01 nhà tắm trên đó. Nhà ông D xây nhà tắm, nhà ông N không biết, vì không đi sang đó, nhìn từ trên cao nhà ông N xuống thì cũng biết có công trình nhưng không biết sử dụng làm gì. Ông N cũng không cho xây tường để bịt lấy phần đất của gia đình mà ông N đã cho bà Thoan D5 đi nhờ. Do ông N không xây tường bịt lối đi nhờ nên ông D5 bà T4 thỉnh thoảng buổi tối có xây dựng dần dần thành cái nhà tắm trên phần đất thừa của ông N đã để cho đi nhờ. Do đất đằng sau nên gia đình bà cũng không để ý. Đầu tiên để mấy cái lồng gà, cái bát, cái nồi... rồi dần dần lợp thành như cái lán tạm rồi đun rơm rác ở đó. Sau khi biết việc ông D5 bà T4 xây dựng công trình nhằm lấn chiếm sang phần đất của gia đình tôi thì gia đình bà có báo với xã và đề nghị xã xuống giải quyết nhưng ông D5 bà T4 vẫn cố tình xây dựng thêm. Theo hiện trạng thì gia đình ông D5 lấn chiếm sang phần đất của ông N tổng diện tích là khoảng 24m2. Gia đình bà có yêu cầu ông D5 phải dọn dẹp trả lại phần đất đã lấn chiếm của gia đình tôi nhưng gia đình ông D5 không trả. Đến nay ông N khởi kiện buộc ông D5 phải trả lại ông N 24m2 đã lấn chiếm và buộc ông D5 phải tháo dỡ những công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm của ông N. Toàn bộ sổ sách bản đồ phần đất này vẫn tên ông N qua các thời kỳ. Thuế đất ông N vẫn đóng đầy đủ 280m2 là bao gồm cả phần ngõ đi đó. Tính cả phần đất ngõ thì thửa đất mới vuông như bản đồ được. Nên gia đình bà vẫn chắc mẩm là đất giấy tờ vẫn tên nhà ông N thì là của ông N, chỉ vì họ hàng cho đi nhờ mà giờ mới mất đất. Theo bản đồ thửa đất của ông Ninh v, phần ngõ đi của ông D5 đi nhờ vẫn nằm trong thửa đất của ông N. Ông D5 bảo đất của mình, vậy bản đồ năm 1993 ông D5 ký kê khai thửa số 34 có 140m2, không có phần diện tích ngõ này, sao ông bảo phần ngõ của mình mà không kê khai vào. Bản đồ 1993 phần ngõ vẫn thuộc đất của ông N, nên ông N tin chắc rằng đất của mình, chỉ cho đi nhờ thì không thể mất đất được. Đến nay do nhu cầu sử dụng, hơn nữa ông D5 luôn nói đất của mình là không đúng. Nay bà đề nghị Tòa án xem xétt buộc ông D5 bà T4 phải trả lại phần ngõ đi khoảng 24m2 cho ông N. Ông N chưa bao giờ bán đất hay tặng cho gì nhà ông D5 bà T4 hay cụ N2 ông L1 phần ngõ đi này. Vì tình nghĩa họ hàng nên cho đi nhờ, nay ông N không cho đi nhờ nữa, thì buộc ông D5 bà T4 trả lại phần ngõ đang đi nhờ đó cho ông N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà anh Đào Vĩnh P4, chị Đào Thanh B1 thống nhất trình bày: ông bà là con ông L1 bà N1. Ông bà nhất trí với bản khai của mẹ ông bà tại Tòa. Ông bà không biết gì về thửa đất đang tranh chấp giữa ông N và ông D5. Ông Bà chỉ nghe trong gia đình kể là thửa đất của ông D5 đang ở là của cụ N2, cụ được tổ tiên để lại cho. Sau đó là bố ông bà là ông L1 bán lại cho ông D5. Ông bà nghe các cụ trong gia đình là phần đất của cụ N2 xưa lối đi đang tranh chấp, khi còn bé thì bố ông bà đã bán đi nên ông bà không biết gì về thửa đất này. Ông bà không có bất cứ tài liệu chứng cứ gì liên quan đến thửa đất của ông D5 hiện ở để xuất trình cho Tòa án. Giấy tờ bố ông bà bán cho ông D5 thì ông D5 giữ gia đình ông bà không có để xuất trình. Nay phải đi làm, xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn H, anh Đào V, chị Dương Thị Xuân Đ1, chị Nguyễn Thị D2, chị Nguyễn Thị T3, cháu Trần Công Gia H2, cháu Trần Công Gia P5 (cháu P5 cháu H2 do chị T3 là người đại diện theo pháp luật) vắng mặt tại phiên tòa, không có lời khai quan điểm trong quá trình chuẩn bị xét xử.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DSST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn N đối với ông Nguyễn Văn D về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  2. Công nhận quyền sử dụng đất có các mốc giới 3, 4, 5, 6, 19, 18, 17, 16, 3 diện tích 27,4m2 hiện ông Nguyễn Văn D và gia đình đang quản lý sử dụng thuộc quyền sử dụng đất của ông Đào Văn N.
  3. Buộc ông Nguyễn Văn D và gia đình phải tháo dỡ các công trình trên phần ngõ đi gồm 01 nhà tắm, 2 lớp cổng, tường, bể nước, bếp gạch đun, cống thoát nước và di chuyển các vật dụng gia đình có trên phần ngõ đi để trả lại ông Đào Văn N quyền sử dụng đất trên.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, ông Nguyễn Văn D là bị đơn trong vụ án có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không xuất trình các tài liệu chứng cứ mới, không thỏa thuận được với nhau để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên tòa và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi tóm tắt và phân tích nội dung vụ án, xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:

[1]. Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn D kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí kháng cáo. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của Bị đơn là ông Nguyễn Văn D, Hội đồng xét xử xét thấy: Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ông Đào Văn D4 và ông Đào Văn C1 đều là con của cụ Đào Văn H6. Ông C1 có vợ là bà Lê Thị N3 vợ chồng ông C1 bà N3 trước đây quản lý sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 28 tại thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; ông Đào Văn D4 ( Bố ông Đào Văn N) và gia đình quản lý sử dụng diến tích đất tại thửa 40 tờ bản đồ số 28 thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. Từ năm 1968 cho đến khi gia đình ông C1, bà N3 bán nhà đất tại thửa số 34 tờ bản đồ số 28 cho ông D bà T4 thì gia đình ông C1, bà N3 đi ra đường làng bằng lối đi nằm ở hướng Nam của thửa đất 34 ( phần diện tích đất đang tranh chấp). Theo ông N thì phần diện tích đất này là do gia đình ông cho gia đình cụ C1 mượn. Nhưng theo bà N1 ( là vợ ông L1 con trai của cụ C1 và cụ N3) thì trước đây do phần đất của ông C1 không có lối đi, do và ông D4, ông C1 là anh em ruột nên ông D4 đã cho ông C1 phần diện tích đất này để gia đình ông C1 làm lối đi ra đường làng vì ngoài lối đi này thì trước đây không còn lối đi nào khác.

Năm 1989 cụ N3 và ông L1 đã bán diện tích đất này cho gia đình ông D, việc mua bán hai bên có lập hợp đồng viết tay, theo giấy mua bán này thì cụ N3 và ông L1 đã bán toàn bộ thửa đất số 34, tờ bản đồ số 28 tại thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội bao gồm cả ngõ đi (là diện tích đất đang tranh chấp ) cho ông D, bà T4. Sau khi mua gia đình ông D, bà T4 đã quản lý sử dụng toàn bộ thửa đất này boa gồm cả lối đi này ( là phần diện tích đất đang tranh chấp). Quá trình quản lý sử dụng năm 1990 gia đình ông D, bà T4 đã xây dựng các công trình trên đất như cổng, láng nền bằng gạch chỉ, xây khu vệ sinh và nhà tắm như hiện nay ( các công trình này nằm trên phần diện tích đất đang tranh chấp), khi gia đình ông D, bà T4 xây dựng các công trình này gia đình ông N không có ý kiến gì. Gia đình ông D quản lý sử dụng diện tích đất này đã hơn 30 năm và gia đình ông D đã đóng thuế đất theo thông báo của cơ quan nhà nước, cụ thể gia đình ông D đã đóng thuế đất đối với diện tích đất là 166,6m2.

Năm 1999 gia đình ông N xây nhà và làm cống thoát nước giáp ranh với phần diện tích đất đang tranh chấp lúc này các bên cũng không ai có ý kiến gì.

Xét thấy, phần diện tích đất đang tranh chấp từ năm 1968 đã hình thành là ngõ đi của thửa đất số 34 tờ bản đồ số 28 ra đường làng. Tuy nhiên theo bản đồ năm 1993 do xã cung cấp thì lại không thể hiện phần diện tích ngõ đi này là chưa phản ánh đúng thực tế hiện trạng sử dụng đất của các hộ dân.

Quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành điều tra xác minh tại địa phương và những người hàng xóm đều cho biết: trước đây nhà ông D xây quay về hướng Nam cổng đi ra đường làng là phần diện tích đất đang tranh chấp phía bắc của thửa đất là mương nước rồi đến ruộng. Năm 2007 xã làm đường nhựa gia đình ông D đã xây nhà như hiện nay và chuyển cửa nhà quay về hướng B để đi ra đường nhựa. Mặt khác cho đến thời điểm hiện nay thì các bên đương sự đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hơn nữa, quá trình quản lý sử dụng gia đình ông D đã xây dựng các công trình trên phần diện tích đất tranh chấp như hiện nay. Tại thời điểm gia đình ông D xây dựng các công trình này mặc dù gia đình ông N ở liền kề nhưng cũng không có ý kiến gì thắc mắc gì trong suốt thời gian dài.

Từ những căn cứ trên có cơ sở xác định gia đình ông D chiếm hữu ngay tình, công khai liên tục phần diện tích đất đang tranh chấp hơn 30 năm.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 183 Bộ luật dân sự năm 2005 thì: “ Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy luật của pháp luật”.

Điều 189 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “ ....Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hưu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật”.

Khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “ Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động săn, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”.

Từ những phân tích trên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn. Do đó sửa bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên Toà không phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nên không được chấp nhận.

Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điều 220, Điều 296; khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 183; Điều 187, Khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ khoản 2 Điều 101 Luật đất đai năm 2013;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DSST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn N đối với ông Nguyễn Văn D về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  2. Ông Nguyễn Văn D và gia đình được tiếp tục quản lý sử dụng diện tích đất 18,6 m2 và các công trình xây dựng trên đất giới hạn bởi các điểm 2,3,4,4',9',2 ( Có sơ đồ kèm theo).
  3. Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho các đương sự do các đương sự là người cao tuổi.
  5. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND huyện Gia Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Lâm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Ngô Tuyết Băng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 451/2024/DS-PT ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 451/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N - D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger