Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 450/2024/HS-ST

Ngày 15 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Đăng Phong;

Thẩm phán:

Ông Đinh Quốc Trí;

Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Thiện;

 

Ông Phí Văn Nghi;

 

Ông Nguyễn Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa:

Ông Lưu Quang Anh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thanh Dung, Kiểm sát viên.

Ngày 15/8/2024, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 347/2024/TLST-HS ngày 12/7/2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 452/2024/QĐXXST-HS ngày 24/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Mạnh D, sinh năm 1986; tại Thành phố Hà Nội; HKTT: Số A, ngõ H, phố M, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số B ngách C ngõ G, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học phổ thông: 6/12; Con ông Phạm Văn M và con bà Bùi Thị L; Gia đình có 03 chị em, bị cáo thứ hai; Vợ Nguyễn Thùy D1, sinh năm 1987 (chưa đăng ký kết hôn); Tiền sự: Không.

    Có 01 tiền án: Bản án số 296/2017/HSST ngày 14/9/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Mạnh D 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; ra trại ngày 16/02/2022.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố Hà Nội (có mặt).

  2. Bùi Ngọc B, sinh năm 1980 tại Thành phố Hà Nội; HKTT: số H L, phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: P số E ngách A ngõ A Đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học phổ thông: 12/12; con ông Bùi Quang B1 và con bà Đặng Thị V; Gia đình có 03 anh em, bị cáo thứ hai; Vợ Phùng Ngọc A, sinh năm 1981 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • Ngày 07/4/2011, Công an phường T, quận B, Thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc theo Quyết định số 230510, phạt tiền 1.500.000đ.
    • Bản án số 107/2014/HSST ngày 18/6/2014 của Tòa án nhân dân quận T xử phạt Bùi Ngọc B 28 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
    • Bản án số 93/2019/HSST ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân quận H xử phạt Bùi Ngọc B 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 23/10/2020.Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố Hà Nội (có mặt).
  3. Vũ Thị Thanh N, sinh năm 1976 tại Thành phố Hà Nội; HKTT: Số B, ngách E H, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số A E, ngách B K, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học phổ thông: 12/12; Con ông Vũ Đức A1 và con bà Đặng Thị Kim L1; Gia đình có 03 chị em, bị cáo thứ nhất; Chồng Đỗ Đình L2 (đã chết), chồng Trần Chí Q, sinh năm 1971 (đã ly hôn); Có 04 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.
    • Nhân thân:
    • Ngày 03/6/2005, Công an quận H, Thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 24531, phạt tiền 100.000đ.
    • Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố Hà Nội (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Mạnh D: Ông Nguyễn Đình T, Văn phòng L3, Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thùy D1, sinh năm 1987; HKTT: Tổ B, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện tại: 23 ngách C ngõ G, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội (có mặt).
  2. Ông Ngô Quang H, sinh năm 1997; HKTT: Số A, tổ G ngõ G, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện tại: 23 ngách C ngõ G, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 15 phút ngày 27/01/2024, tại trước cửa số nhà D P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội, Công an quận H kiểm tra, bắt quả tang bị cáo Bùi Ngọc B điều khiển xe máy HONDA Wave S, BKS: 30H2 - 8968, chở phía sau xe là bị cáo Vũ Thị Thanh N có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ của B: 01 túi nilon màu trắng, kích thước (1x2) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu vàng, bên trong có Sim số 0879968082, 0886651180 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đỏ BKS 30H2-8968. Thu giữ của N: 01 túi nilon khẩu trang màu đen, bên trong dính 01 túi nilon kích thước khoảng (4x7) cm chứa tinh thể màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xám bạc, bên trong có Sim số 0822535226. B và N khai nhận là ma túy “đá” của Phạm Mạnh D thuê B mang bán cho khách;.

Căn cứ lời khai các bị cáo Bùi Ngọc B và Vũ Thị Thanh N, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Phạm Mạnh D tại số B, ngách C, ngõ G, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội, thu giữ:

  • Tại chân máy may tầng 4: 01 túi xách màu đen, kích thước (26x16) cm bên trong có:
    • - 01 cân điện tử màu đen.
    • - 01 túi nilon kích thước (19x12) cm chứa tinh thể màu trắng.
    • - 01 túi nilon kích thước (10x16) cm chứa tinh thể màu trắng.
    • - 01 túi nilon kích thước (10x11) cm chứa tinh thể màu trắng.
    • - 01 túi nilon kích thước (10x8) cm chứa tinh thể màu trắng.
    • - 01 túi nilon kích thước (5x2) cm chứa tinh thể màu trắng.
    • - 01 túi nilon màu hồng, kích thước (9x6) cm chứa nhiều viên nén màu đỏ.
    • - 03 túi nilon màu tím, kích thước (9x6) cm chứa nhiều viên nén màu đỏ.
    • - 01 túi nilon kích thước (12x6) cm chứa nhiều túi nilon viền đỏ kích thước (4x8)cm còn mới chưa qua sử dụng.
    • - 01 túi nilon kích thước (12x8)cm, chứa nhiều túi nilon viền xanh kích thước (3x3)cm còn mới chưa qua sử dụng.
  • Tại mặt bàn phòng khách tầng 1:
    • - 01 hộp giấy hình chữ nhật màu đen, trong có 01 gói nilông hình chữ nhật màu đen trên có chữ “SEOMOU” còn mới chưa sử dụng.
    • - 01(một) điện thoại kiểu dáng OPPO Reno5 màu bạc, lắp sim có số thuê bao 0397960986.

Tại thời điểm khám xét, trong nhà bị cáo D có chị Nguyễn Thùy D1 và anh Ngô Quang H. Thu giữ của D1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, có Sim số 0373749630, 0563025020; thu giữ của H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, có Sim số 0932368700.

Kết luận giám định số 1257 ngày 03/02/2024 của Phòng K - C2 kết luận:

  • Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (thu giữ của Bùi Ngọc B) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,250 gam.
  • Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (thu giữ của Vũ Thị Thanh N) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 2,530 gam.

Kết luận giám định số 1256 ngày 03/02/2024 của Phòng K - Thành phố Hà Nội, kết luận đối với số ma túy thu giữ của D:

  • Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon kích thước (19x12)cm là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 49, 170 gam.
  • Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon kích thước (10x16)cm là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 38, 120 gam.
  • Tinh thể màu trắng bên trong 03 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 29,180 gam.
  • Các viên nén màu đỏ bên trong 01 túi nilon màu hồng và 03 túi nilon màu tím đều là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 74, 610 gam.
  • 01 cân điện tử màu đen có dính ma túy loại Ketamine.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 01/2024, bị cáo Phạm Mạnh D liên lạc với một người bạn tên “V” trên mạng xã hội Telegram để hỏi mua khoảng 89 gam ma túy “Ketamine kim tuyến” với giá 66.750.000 đồng và 40 gam ma túy “Ketamine đá” với giá 20.000.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. D và “V” thỏa thuận giao nhận ma túy tại khu vực gầm cầu T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội, tiền mua ma túy D nợ trả sau. Khi D đến địa điểm hẹn, “V” gửi hình ảnh vị trí ma túy mà “V” đã để sẵn ở khu vực gầm cầu T để D tự ra lấy. Tại vị trí “V” gửi ảnh, D thấy một hộp giấy dán băng dính nên đã mang về nhà. Khi mở ra, D thấy bên trong có 02 túi nilon chứa ma túy Ketamine, 04 túi ni lông chứa các viên nén màu đỏ là ma túy “Hồng phiến” và 01 cân điện tử màu đen. D đã cho toàn bộ số ma túy trên và chiếc cân điện tử vào một chiếc túi xách màu đen rồi cất giấu ở chân máy may trên phòng thờ tầng 4 nhà D.

Đến khoảng ngày 24/01/2024, D tiếp tục liên lạc với một người bạn tên “B2” trên mạng xã hội Telegram hỏi mua khoảng 50 gam ma túy “đá” với giá 22.250.000 đồng, mục đích bán lại kiếm lời. D và “B2” thỏa thuận giao dịch mua bán ma túy ở khu vực thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. “B2” cho D số tài khoản để D chuyển tiền mua ma túy (D không nhớ số tài khoản và không nhớ chuyển tiền bằng cách nào). Sau đó D đi theo chỉ dẫn của “B2” đến vị trí “B2” cất giấu ma túy tại thành phố B. D đến vị trí trên thì thấy một túi nilon bên trong chứa ma túy “đá”, sau khi nhận được ma túy D mang về nhà cất giấu trong túi xách màu đen tại gian thờ tầng 4 cùng với số ma túy D đã mua của “Việt” trước đó.

Khoảng 21 giờ ngày 26/01/2024, một người đàn ông không quen biết sử dụng số điện thoại 0586.983.xxx gọi điện, nhắn tin cho D hỏi mua 3.000.000 đồng tiền ma túy “đá”. D đồng ý và yêu cầu người đàn ông trên chuyển tiền mua ma túy vào số tài khoản 8530085926 của D mở tại Ngân hàng B4. Người đàn ông trên đã chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng từ số tài khoản M1 mang tên NGUYEN DINH THIEP vào tài khoản của D. Khoảng 14 giờ ngày 27/01/2024, người đàn ông trên gọi điện cho D hẹn giao ma túy tại trước cửa số nhà D P, phường P, quận H, Hà Nội. D đồng ý và liên lạc qua ứng dụng T1 thuê Bùi Ngọc B đến nhà D lấy ma túy mang đi bán cho khách. Sau đó, D đi lên tầng 4, dùng cân điện tử màu đen cân khoảng 2,5 gam ma túy đá cho vào 01 túi nilon, bọc ngoài là 01 túi nilon kích thước (4x7) cm rồi dán lên bề mặt túi đựng khẩu trang màu đen (trên có chữ “SEOMOU”) để ngụy trang; D cân thêm 0,25 gam ma túy “đá” cho vào 01 túi nilon kích thước (1x2) cm để trả công cho B.

Khoảng 15 giờ cùng ngày, bị cáo Bùi Ngọc B đi xe máy nhãn hiệu HONDA WaveS màu đỏ, BKS: 30H-8968 từ nhà đến số A ngách B phố K, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội đón bị cáo Vũ Thị Thanh N cùng đi đến nhà D. Khi đến nơi, B và N gặp D tại tầng 1. D đưa cho B 02 túi nilon chứa ma túy đã chuẩn bị sẵn, dặn B mang túi nilon chứa ma túy dán ở túi khẩu trang màu đen giao cho khách, túi nilon ma túy còn lại là để trả công B vận chuyển ma túy. Sau đó, B bảo N cầm hộ B túi nilon chứa ma túy đem đi giao cho khách, khi nào gặp khách mua ma túy thì đưa lại cho B, còn số ma túy “đá” D trả công cho B thì B cất giấu vào bên trong chiếc tất bên chân trái B đang đi, mục đích có khách hỏi mua sẽ bán lại. Về phía N, sau khi nhận ma túy từ B đã cất giấu vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc. Khi B điều khiển xe máy chở N đi đến khu vực trước cửa nhà số D P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội thì bị cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Phạm Mạnh D phù hợp với lời khai Bùi Ngọc B và Vũ Thị Thanh N về việc D thuê B vận chuyển ma túy vào ngày 27/01/2024, phù hợp với kết quả sao kê tài khoản ngân hàng, biên bản kiểm tra điện thoại của Phạm Mạnh D. Đối với số ma túy thu giữ trong người B, N khai không biết B sẽ sử dụng số ma túy này vào mục đích gì.

Đối với đối tượng “V”: Do D khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại cụ thể nên không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với đối tượng “B2”: D khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, chưa gặp trực tiếp “B2” mà chỉ liên hệ với “B2” qua Telegram đăng ký số điện thoại 0867.126.xxx. Xác minh thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0867.126.xxx là Vũ Đức B3, sinh năm 1971, địa chỉ: 7 L, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng. Ông B3 khai đăng ký, sử dụng số điện thoại 0867.126.xxx từ năm 2022 đến nay, ông không quen biết ai là Phạm Mạnh D, không sử dụng mạng xã hội Telegram, không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với người đàn ông mua ma túy “đá” của D ngày 27/01/2024: D khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, chưa gặp trực tiếp mà chỉ biết đối tượng sử dụng số điện thoại 0586.983.xxx và tài khoản ngân hàng M2 số 0988777777777.

Xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0586.983.xxx là Mai Thị O, sinh năm 1977, địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Chị O khai không đăng ký sử dụng số điện thoại trên, không quen biết ai là Phạm Mạnh D, không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy. Xác minh chủ tài khoản ngân hàng M2 số 0988777777777 mang tên Nguyễn Đình T2, sinh năm 1993, địa chỉ: xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, chỗ ở: số C P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Anh T2 khai không quen biết ai là Phạm Mạnh D, tài khoản số 0988777777777 của anh T2 mở và sử dụng từ năm 2022 đến nay, mục đích để sử dụng cá nhân và phục vụ việc kinh doanh chuyển, rút tiền trong nước. Ngày 26/01/2024, có khách hàng đến cửa hàng của anh T2 đưa tiền mặt, yêu cầu anh T2 chuyển khoản đến số tài khoản 8830085926 mang tên Phạm Mạnh D và trả phí dịch vụ chuyển tiền. Anh T2 không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy, không biết họ tên, địa chỉ của khách hàng nên không có căn cứ điều tra, làm rõ.

Xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE S, biển kiểm soát 30H2-8968, số máy HC12E1595043, số khung RLHHC12019Y537648 thu giữ của Bùi Ngọc B mang tên Nguyễn Khai C, sinh năm 1965, địa chỉ: số G, ngõ C N, phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội. Xác minh tại Công an phường Đ, B, Hà Nội xác định: Ông C đã chết năm 2021. Bà Hoàng Tùng H1 (vợ ông C) khai gia đình bà có mua và sử dụng chiếc xe máy trên nhưng sau đó đã bán lại cho người khác. Do thời gian đã lâu, bà H1 không nhớ đã bán chiếc xe trên cho ai.

Cáo trạng số: 338/CT-VKSHN-P1 ngày 10/7/2024

của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Mạnh D tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự và các bị cáo Bùi Ngọc B, Vũ Thị Thanh N tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa buộc tội các bị cáo về tội đã truy tố và đề nghị:

  1. Áp dụng: Điểm h khoản 4 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Mạnh D 20 năm tù.
  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Ngọc B từ 3 đến 4 năm tù.
  3. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị Thanh N từ 2 đến 3 năm tù.

Vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và các đồ vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Điện thoại di động các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Trả lại điện thoại của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bị cáo N do không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Truy thu của bị cáo Phạm Mạnh D số tiền 3.000.000 đồng.

Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Mạnh D trình bày: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo D là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nhưng mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là quá nghiêm khắc. Số lượng ma túy của bị cáo đã được thu hồi kịp thời, chưa kịp phát tán ra ngoài xã hội. Bị cáo D đã tố giác tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền. Tuy chưa có thông tin về quá trình giải quyết vụ án nhưng đã thể hiện tinh thần lập công chuộc tội của bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo D dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Lời nói sau cùng các bị cáo nhận tội, thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố, không tham gia tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng luật.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai người liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu được và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có đủ cơ sở kết luận:

Tháng 01/2024, bị cáo Phạm Mạnh D mua của bạn tên “Việt” 66.750.000 đồng ma túy “Ketamine kim tuyến” và 20.000.000 đồng ma túy “Ketamine đá”; mua của bạn tên “B3” 22.250.000 đồng ma túy “đá” với mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 27/01/2024, bị cáo D thuê bị cáo Bùi Ngọc B đi giao cho khách mua 2,53 gam ma túy Methamphetamine và trả công cho bị cáo B bằng 0,25 gam ma túy Methamphetamine. Bị cáo B đã cùng bị cáo Vũ Thị Thanh N đến nhận ma túy của bị cáo D rồi đem đi giao cho khách, khi đi đến trước nhà số D P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội thì bị kiểm tra, bắt giữ.

Khám xét nhà bị cáo Phạm Mạnh D thu giữ 103,79 gam ma túy Methamphetamine và 87,29 gam ma túy Ketamine.

Bị cáo Phạm Mạnh D phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mua bán trái phép 106,57 gam ma túy Methamphetamine và 87,29 gam ma túy Ketamine; Bị cáo Bùi Ngọc B phải chịu trách nhiệm hình đối với hành vi mua bán trái phép 2,78 gam ma túy Methamphetamine; bị cáo Vũ Thị Thanh N phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mua bán trái phép 2,53 gam ma túy Methamphetamine.

Hành vi trên của các bị cáo Phạm Mạnh D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự, hành vi của các bị cáo Bùi Ngọc B và Vũ Thị Thanh N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn mà còn tiếp tay cho các đối tượng nghiện ma túy, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn trong xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy đối với đời sống xã hội và quy định của Nhà nước là nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ, chứa chấp sử dụng các chất ma túy nhưng các bị cáo coi thường pháp luật, vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo Phạm Mạnh D đã bị đưa ra xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo D thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Bùi Ngọc B có nhân thân xấu, đã hai lần bị kết án về các tội liên quan đến ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội.

Do vậy, cần có hình nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Phạm Mạnh D với vai trò chính, tiếp đến là vai trò của bị cáo Bùi Ngọc B và cuối cùng là bị cáo Vũ Thị Thanh N.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và đều là lao động chính trong gia đình. Bị cáo Vũ Thị Thanh N không có tiền án, tiền sự, phạm tội với vai trò đồng phạm, không được hưởng lợi gì nên mức hình phạt thấp hơn bị cáo Bùi Ngọc B. Bố mẹ bị cáo N được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Đó là những tình tiết để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo D trình bày đã tố giác tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền nhưng không xuất trình tài liệu chứng minh nên không có cơ sở áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ hình phạt Viện kiểm sát đề nghị phù hợp pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập và tài sản; việc áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo là không khả thi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[4] Vật chứng của vụ án:

Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và các đồ vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE S, biển kiểm soát 30H2-8968 thu giữ của bị cáo Bùi Ngọc B và điện thoại di động các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Trả lại điện thoại của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bị cáo N do không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Bị cáo Phạm Mạnh D bán ma túy được số tiền 3.000.000 đồng nên cần truy thu số tiền này của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.

[5] Vấn đề khác: Quá trình điều tra xác định chị Nguyễn Thùy D1 và anh Ngô Quang H không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Mạnh D nên không xem xét xử lý là phù hợp.

[6] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát buộc tội các bị cáo về tội đã truy tố và đề nghị mức hình phạt là phù hợp với hành vi của các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Mạnh D, Bùi Ngọc B và Vũ Thị Thanh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  1. Áp dụng: Điểm h khoản 4 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:

    Phạm Mạnh D 20 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/01/2024.

  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:

    Bùi Ngọc B 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/01/2024.

  3. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:

    Vũ Thị Thanh N 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/01/2024.

II. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Vật chứng:

  1. Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm:
    • - 01 phong bì niêm phong dán kín, không kiểm tra được bên trong niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1; Cán bộ Đinh Công C1; Đương sự Bùi Ngọc B; Người chứng kiến Trần Quang H2 và dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H.
    • - 01 phong bì niêm phong dán kín, không kiểm tra được bên trong niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1; Cán bộ Đinh Công C1; Đương sự Vũ Thị Thanh N; Người chứng kiến Trần Quang H2 và dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H.
    • - 01 hộp giấy niêm phong dán kín, không kiểm tra được trong niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1; Cán bộ Đinh Công C1; Đương sự Phạm Mạnh D; Người chứng kiến Ngô Quang H, Nguyễn Thùy D1 và dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H.
    • - 01 túi xách màu đen đã qua sử dụng.
    • - 01 hộp giấy hình hộp chữ nhật màu đen bên trong có một gói ni lông hình chữ nhật màu đen có chữ SEOMOU, còn mới chưa sử dụng.
    • - 01 túi ni lông kích thước (12x6)cm chứa nhiều túi ni lông viền đỏ kích thước (4x8)cm, còn mới chưa sử dụng.
    • - 01 túi ni lông kích thước (12x8)cm chứa nhiều túi ni lông màu xanh viền xanh kích thước (3x3)cm, còn mới chưa sử dụng.
  2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
    • - 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu vàng đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động của bị cáo Bùi Ngọc B.
    • - 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO Reno5 màu bạc đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động của bị cáo Phạm Mạnh D.
    • - 01 xe máy HONDA WAVE S màu xám đen đỏ, BKS: 30H2 - 8968; số máy HC12E1595043, số khung RLHHC12019Y537648, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động, lốp xe xẹp, hết hơi, nhiều chi tiết nhựa trên xe trầy xước.
  3. Trả lại cho bị cáo Vũ Thị Thanh N 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO màu xám bạc đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động.
  4. Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thùy D2 01 điện thoại di động kiểu dáng Realme số Imei 1: 8/2704081629157; đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động.
  5. Trả lại cho anh Ngô Quang H 01 điện di động kiểu dáng Iphone 11 màu xanh, số Imei: 351057064439941 đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội.

  6. Truy thu số tiền 3.000.000đ của bị cáo Phạm Mạnh D để nộp ngân sách Nhà nước.

2. Án phí: Các bị cáo Phạm Mạnh D, Bùi Ngọc B, Vũ Thị Thanh N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKS và Cục THADS Tp Hà Nội;
  • - Công an Tp Hà Nội;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đăng Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 450/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 450/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án ST 450- 15.8.2024- Phạm Mạnh D, Bùi Ngọc B và Vũ Thị Thanh N - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger