Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 450/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 03-06-2024;

“V/v tranh chấp: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Mạnh Dũng;

2. Bà Đào Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hà Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 59/2024/TLST-DS ngày 22/01/2024 về việc "Tranh chấp ly hôn"; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80 ngày 11/4/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 86 ngày 02/5/2024; giữa:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986; Căn cước công dân số [...]xxx; Đăng ký thường trú: K, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1986; Căn cước công dân số [...]xxx; Hộ khẩu thường trú: Phòng A Chung cư A T, phường T, quận Đ, Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn xin ly hôn, các văn bản trình bày tại Tòa, anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh và chị Trần Thị H kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, Hải Phòng ngày 15/02/2016.

Thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng; nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp tính tình nên từ năm 2018, chị H đã chuyển đi nơi khác cư trú; vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay; Từ khi sống ly thân anh chị không liên lạc, anh không có thông tin gì của chị H.

Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.

Con chung: Anh và chị H có 01 con chung là Nguyễn Anh K (giới tính: nam), sinh ngày 14/01/2016. Hiện cháu K cư trú cùng anh và ông bà nội, cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường.

Ly hôn, nguyện vọng của anh được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung (động sản, bất động sản): Anh và chị H không có tài sản gì chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Ngoài yêu cầu ly hôn, con chung, anh không có yêu cầu nào khác.

* Tại Bản tự khai chị Trần Thị H trình bày:

Quá trình mâu thuẫn không có việc gì xảy ra. Anh T xin ly hôn, chị đồng ý.

Con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Anh K. Cháu K ở cùng gia đình anh T, sức khỏe của cháu tốt.

Ly hôn, anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị đồng ý.

Tài sản chung: Chị không có ý kiến gì.

Nợ chung: Không có.

Hiện chị đang bị tạm giam, do vậy, không trực tiếp đến Tòa án tham gia tố tụng được, chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa.

Tại phiên tòa: Các đương sự đều vắng mặt; Tòa án công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án; đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án là đúng quy định của pháp luật.

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H đăng ký thường trú tại phường T quận Đ, Hà Nội; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa.

- Về nội dung:

Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 21, 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326: Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T; Con chung: Giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị H; Tài sản chung, nợ chung: Không xét; Án phí: Anh T phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Tố tụng:

- Thẩm quyền: Chị Trần Thị H đăng ký thường trú tại phường T, quận Đ, Hà Nội; Anh T có đơn đề nghị Toà án nhân dân quận Đống Đa giải quyết việc ly hôn là phù hợp pháp luật; Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết và xét xử là đúng thẩm quyền.

- Việc vắng mặt của đương sự: Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản của Toà án trong đó có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà cho các đương sự trong vụ án; Các đương sự đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt đương sự.

2. Nội dung:

2.1. Quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện anh T và chị H kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, Hải Phòng ngày 15/02/2016; Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, xác nhận hôn nhân giữa anh T và chị H là hợp pháp.

Theo anh T trình bày anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay; theo chị H trình bày anh chị mâu thuẫn không có việc gì xảy ra.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần thông báo chị H đến Tòa thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự nhưng chị H đều vắng mặt. Anh T xin ly hôn, chị H đồng ý ly hôn.

Nhận thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, chung sống với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Đối với hôn nhân của anh chị: Tuy chị H trình bày không có mâu thuẫn nhưng thực tế anh chị mỗi người một nơi, không quan tâm, không chăm sóc nhau, anh T xin ly hôn chị H đồng ý; Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, với điều kiện, hoàn cảnh như hiện nay thì không có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc; Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết ly hôn; Căn cứ Điều 55, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T.

2.2. Con chung: Căn cứ lời trình bày của các đương sự cùng các tài liệu có trong hồ sơ, đủ cơ sở xác nhận anh chị có 01 con chung là Nguyễn Anh K (giới tính: nam); sinh ngày 14/01/2016.

Nhận thấy: Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con trẻ; Hiện cháu K1 cư trú cùng anh T, cháu khoẻ mạnh, phát triển

bình thường; cháu K1 có nguyện vọng được ở với bố; chị H đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung; từ ngày 11/4/2024 chị H bị bắt tạm giam; Do đó, giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, ý kiến của các anh chị và phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu chị H cấp dững nuôi con chung. Hiện chị H bị tạm giam nên không có điều kiện để cấp dưỡng nuôi con, do vậy, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H là có căn cứ;

2.3. Tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Anh T, chị H đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét.

2.4. Nợ chung: Không có nên không xét.

3. Án phí: Anh T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Anh T, chị H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Điều 18, Điều 26, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn T.
    Anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Trần Thị H.
  2. Con chung: Xác nhận anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị H có 01 con chung là Nguyễn Anh K (giới tính: nam); sinh ngày 14/01/2016. Giao cháu Nguyễn Anh K cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng; Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị H cho đến khi đương sự có yêu cầu hoặc có quyết định pháp luật khác thay thế.
    Chị H có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
  3. Tài sản chung (động sản, bất động sản): Anh T, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét.
  4. Nợ chung: Anh T, chị H xác nhận không có nên không xét.
  5. Án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 918438 ngày 19/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa. Anh T đã nộp đủ tiền án phí.

Anh T, chị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa;
  • - Cơ quan Thi hành án quận Đống Đa;
  • - Lưu HS/VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 450/2024/HNGĐ - ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 450/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger