Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 450/2025/HS-ST

Ngày: 26/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Thế Hùng;
  2. Bà Nguyễn Thị Hương;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 371/2025/TLST- HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 431/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Võ Văn H (tên gọi khác: không), sinh năm: 1981 tại Đồng Nai; thường trú: số B tổ A, khu phố T, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn S và bà: Nguyễn Thị Đ; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án: không;

Nhân thân: Ngày 28/11/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 828/QĐ-TA, thời hạn 18 tháng. Ngày 26/12/2024, Cơ sở Cai nghiện ma túy P2 thuộc Sở L1 ban hành Quyết định tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 41/QĐ-CSPĐ đối với bị cáo Võ Văn H;

Tiền sự: Ngày 21/10/2023, bị Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, xử phạt số tiền 2.500.000 đồng. Ngày 20/11/2023, bị cáo đã nộp số tiền 2.500.000 đồng;

Bị tạm giam từ ngày 26/12/2024 đến nay; (có mặt tại phiên tòa).

Nguyên đơn dân sự: Công ty cổ phần T3;

Địa chỉ trụ sở chính: B L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện pháp luật: ông Trần Vĩnh P, sinh năm: 1969;

Địa chỉ: C, khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện ủy quyền cho nguyên đơn dân sự là ông Nguyễn Tấn P1, sinh năm: 1998;

Địa chỉ liên lạc: A N, phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh;

(theo Giấy ủy quyền ngày 26/6/2025);

(ông P1 có mặt tại phiên tòa);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tổng Công ty Điện lực Thành phố H- Công ty T3;

Địa chỉ trụ sở: F T, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1;

Chức vụ: Tổng Giám đốc;

Địa chỉ: C T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện theo ủy quyền:

  • - Ông Võ Hồng Minh D, sinh năm: 1970;
  • Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Tổng Công ty Điện lực Thành phố H- Công ty T3;
  • (theo Giấy ủy quyền số 4384/UQ-EVNHCMC ngày 30/9/2022);
  • - Ông Thái Kim S1;
  • Chức vụ: Phó Trưởng phòng tổ chức nhân sự;
  • - Ông Mai Thanh L;
  • Chức vụ: Phó Trưởng phòng kỹ thuận an toàn;
  • (theo Giấy ủy quyền số 96/UQ- PCTĐ ngày 25/6/20225);
  • Địa chỉ: F T, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • (ông S1 và ông L có mặt tại phiên tòa);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 31/8/2024, anh Lê Văn T2 là nhân viên bảo vệ Công ty cổ phần T3 (gọi tắt là Công ty T3), địa chỉ số D H, phường L, Thành phố T đang đi tuần tra khu vực vành đai ngoài của Công ty thuộc đường số 01 (Lâm viên) đến khu vực máy biến áp trên nền đất sát trụ điện X/Đ1U T1 IL đường số A, phường L, Thành phố T do Công ty T3 quản lý thì phát hiện Võ Văn H đang thực hiện cắt dây điện từ máy biến áp. Anh T2 đã trình báo Công an phường L, thành phố T đến bắt giữ Hoành cùng tang vật đưa về trụ sở về làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố T, Võ Văn H, khai nhận:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 29/8/2024, H đi xe đạp đến gần khu vực D H, phường L, thành phố T để bắt rắn thì phát hiện bên trong Công ty T3 có 01 tủ điện được đặt dưới nền đất không rõ loại gì, H leo qua hàng rào vào bên trong để xem thì phát hiện bên trong tủ điện có rất nhiều đoạn dây điện dây đồng, do không mang theo dụng cụ nên H đi về.

Đến 17 giờ 00 phút, ngày 31/8/2024, H chuẩn bị 02 cây kềm loại cắt dây điện, một đèn pin cầm tay, một cây kéo với ý định cắt trộm dây điện bán phế liệu kiếm tiền tiêu xài. Đền khoảng 18 giờ 00 phút, H bắt xe buýt, rồi đi bộ đến khu vực có tủ điện, thấy không có người trông coi H leo hàng rào vào bên trong, khi đang cắt trộm dây điện thì bị Công an phường L, thành phố T tuần tra phát hiện, bắt giữ và đưa về Công an phường L, thành phố T làm việc.

Võ Văn H khai nhận đã cắt trộm được 02 đoạn dây kim loại màu đồng, mỗi đoạn dài 01 mét trong máy biến áp. Hoành không thừa nhận đã cắt các đoạn dây còn lại trong máy biến áp, không thừa nhận đã hạ máy biến áp xuống đất;

Qua test ma túy, H dương tính với chất ma túy M và MDMA, H khai sử dụng ma túy từ tháng 06/2022 cho đến nay.

Kết luận định giá tài sản số 211-KV2 ngày 21/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T đã kết luận: 02 đoạn dây kim loại đồng, mỗi đoạn dài 1 mét, tổng trọng lượng 38.8 gram trị giá 56.648 đồng;

Quá trình điều tra, xác định: Ngày 21/10/2023, Võ Văn H bị Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 441 về hành vi: "Trộm cắp tài sản" xử phạt số tiền 2.500.000 đồng. Ngày 20/11/2023, H đã chấp hành đóng phạt. Tính đến thời điểm ngày 31/08/2024, H chưa hết thời hiệu. (Quyết định xử phạt số 441/QĐ-XPHC ngày 21/10/2023; B lại nộp phạt số 628815 ngày 20/11/2023 tại Ngân hàng TMCP Đ2- Chi nhánh B2- Phòng G, đã đóng phạt);

Vật chứng vụ án:

  • - 02 đoạn dây kim loại màu đồng, mỗi đoạn dài 01m (thu giữ của H).
  • - 01 cái kéo màu đen (thu giữ của Hoành);
  • - 02 cái kềm loại cắt dây điện (thu giữ của H).
  • - 01 cái đèn soi đeo trước trán (thu giữ của H).
  • - 01 cây móc thân bằng tre được bọc ni lông phần đuôi, đầu móc bằng kim loại.
  • - 01 ba lô màu nâu bên trong có: 01 kềm cộng lực, 01 cờ lê đa giác 1 đầu tròn,
  • - 01 đầu lưỡi liềm kí hiệu "KWT CRV22" dài 26cm; 01 cờ lê đa giác 02 đầu tròn dài 29cm;
  • - 01 cái búa đầu kim loại, cán gỗ dài 28cm;

Tại bản Cáo trạng số 156/CT- VKSTPTĐ ngày 10/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Võ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Võ Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Văn H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù giam;

- Bị cáo không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện ủy quyền cho nguyên đơn dân sự Công ty T3 là ông Nguyễn Tấn P1 trình bày: Trước thời điểm bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty T3; bảo vệ của Công ty T3 tại kho hàng số D H, phường L, Thành phố T phát hiện có nhiều đối tượng lảng vảng, bị cáo cũng khai nhận là ngày 29/8/2024, bị cáo có đến địa chỉ nêu trên. Do đó, ngoài bị cáo còn có đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội; căn cứ vào hồ sơ thi công sửa chữa tái lập điện cho Trạm biến thế 250kVA giữa Công ty T3 với Công ty TNHH T4 thì tổng chi phí sửa chữa cho Trạm biến thế 250kVA số tiền là 184.519.500 (Công ty T3 làm tròn số tiền là 184.500.000 đồng). Công ty T3 yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường số tiền 184.500.000 đồng cho Công ty T3;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 31/8/2024, bị cáo Võ Văn H có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 đoạn dây kim loại, mỗi đoạn dài 1 mét, tổng trọng lượng 0,388 kg trong máy biến thế 250kVA đặt tại địa chỉ số D H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do Công ty T3 quản lý, sử dụng thì bảo vệ Công ty T3 phát hiện và báo cho Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 26/12/2024, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T bắt tạm giam;

Căn cứ vào kết luận định giá tài sản số B- KV2/KL-HĐĐGTS ngày 21/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận: 02 đoạn dây kim loại đồng, mỗi đoạn dài 1 mét, tổng trọng lượng 0,388 kg; đơn giá 146.000 đồng/kg; trị giá: 56.648 đồng; thời điểm định giá ngày 31/8/2024;

Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, được xác định phù hợp với lời khai của nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tang vật chứng thu giữ được. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 56.648 đồng. Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 của điều luật đã viện dẫn.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; chưa có tiền án; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu;

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền cho nguyên đơn dân sự Công ty T3 là ông Nguyễn Tấn P1 trình bày: Trước thời điểm bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty T3; bảo vệ của Công ty T3 tại kho hàng số D H, phường L, Thành phố T phát hiện có nhiều đối tượng lảng vảng, bị cáo cũng khai nhận là ngày 29/8/2024, bị cáo có đến địa chỉ nêu trên. Do đó, ngoài bị cáo còn có đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội; căn cứ vào hồ sơ thi công sửa chữa tái lập điện cho Công ty T3 250kVA giữa Công ty T3 với Công ty TNHH T4 thì tổng chi phí sửa chữa cho Trạm biến thế 250kVA số tiền là 184.519.500 (Công ty T3 làm tròn số tiền là 184.500.000 đồng). Công ty T3 yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường số tiền 184.500.000 đồng cho Công ty T3;

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào Biên bản ghi lời khai ngày 31/8/2024, Biên bản ghi lời khai ngày 02/9/2024 của ông Lê Văn T2 là nhân viên bảo vệ Công ty S2 khai nhận: “ Vào lúc 17 giờ 00 phút, ngày 31/8/2024, tôi đang trong ca trực... thì tôi phát hiện một đối tượng đang thực hiện việc cắt dây từ máy biến thế điện” và “ lúc tôi phát hiện thì đối tượng đang cắt dây đồng phía trong của máy biến áp nhưng chưa lấy đi được” và “……… tôi được thông báo các thiết bị bị lấy trộm tại trụ điện X/Đ1U T11L vào ngày 28/8/2024";

Căn cứ vào Biên bản làm việc về nội dung: Kiểm tra camera ghi lại hình ảnh xung quanh khu vực Trạm biến áp tại trụ điện X/D1U T11L thuộc địa chỉ D H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Kho, xưởng Công ty cổ phần T3). Qua làm việc anh Trần Vĩnh P- đại diện pháp luật của Công ty T3 cho biết xung quanh khu vực Trạm biến áp tại trụ điện X/D1U T11L thuộc địa chỉ D H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Kho, xưởng Công ty cổ phần T3) không có camera ghi lại hình ảnh vụ việc “Trộm cắp tài sản” ngày 31/8/2024;

Căn cứ vào Công văn số 4176/PCTĐ-KTAT ngày 26/8/2024 của Công ty T3- Tổng Công ty Điện lực Thành phố H phối hợp kiểm tra ghi nhận hiện trạng trạm biến thế Công Đức B1- CS 250KVA bị mất cắp cáp suất, hệ thống cáp xuất và hệ thống đo đếm xác định tình trạng vận hành: trạm biến thế đang cô lập tách vận hành (03 FCO đang mở); vật tư thiết bị bị đánh cắp: cáp xuất hạ thế, hệ thống đo đếm hạ thế (03 T1 400/5A, điện kế 3 pha, cáp nhị thứ). Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tổng Công ty Điện lực Thành phố H- Công ty T3 là ông Thái Kim S1 trình bày: Ngày 23/3/2024, Công ty T3 có ký Hợp đồng mua bán điện ngoài mục đích sinh hoạt, để phục vụ cho việc cung cấp điện cho kho hàng của Công ty T3 tại địa chỉ D H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì Điện lực T3 có lắp đặt Trạm biến thế 250kVA; ngày 01/9/2024, Điện lực Thủ Đức được Công ty T3 báo tin có đối tượng trộm cắp vật tư, thiết bị điện của Trạm biến thế 250kVA. Căn cứ vào chỉ số công tơ của Công ty T3 thì chỉ số công tơ đã tạm ngưng từ tháng 04/2020- nghĩa là Trạm biến thế 250kVA này tạm ngưng hoạt động, chỉ số điện không có lũy kế. Căn cứ vào Hợp đồng mua bán điện giữa các bên, trong thời hạn 06 tháng mà Công ty T3 không sử dụng Trạm biến thế 250kVA phải thông báo cho Điện lực T3 biết. Tuy nhiên, ngày 22/8/2024, Điện lực T3 ghi nhận Trạm biến thế 250kVA đã bị mất cắp cáp suất, hệ thống cáp xuất và hệ thống đo đếm xác định tình trạng vận hành: trạm biến thế đang cô lập tách vận hành (03 FCO đang mở); vật tư thiết bị bị đánh cắp: cáp xuất hạ thế, hệ thống đo đếm hạ thế (03 T1 400/5A, điện kế 3 pha, cáp nhị thứ). Điện lực Thủ Đ1 nhận thấy, Công ty T3 có phần lỗi trong việc quản lý, sử dụng Trạm biến thế 250kVA; không chứng minh được bị cáo là người gây ra toàn bộ thiệt hại của Trạm biến thế 250kVA nên yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 184.500.000 đồng là không có cơ sở;

Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội Trạm biến thế 250KVA đã để dưới dưới mặt đất, đã bị hư hỏng tài sản và bị mất các thiết bị cáp xuất hạ thế, hệ thống đo đếm hạ thế (03 T1 400/5A, điện kế 3 pha, cáp nhị thứ); bị cáo thừa nhận chỉ cắt 02 đoạn dây kim loại, mỗi đoạn dài 1 mét; ngoài ra, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có tài liệu chứng cứ chứng minh bị cáo làm hư hỏng hay chiếm đoạt bộ phận nào khác của Trạm biến thế 250kVA của Công ty T3. Nguyên đơn dân sự Công ty T3 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh bị cáo là người làm hư hỏng, gây thiệt hại và chiếm đoạt các thiết bị nào khác của trạm biến thế nêu trên nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn dân sự Công ty T3 buộc bị cáo bồi thường số tiền 184.500.000 đồng. Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt số tiền là 56.648 đồng cho Công ty T3;

[5] Về xử lý vật chứng: Thu giữ của bị cáo:

  • - 02 đoạn dây kim loại màu đồng, mỗi đoạn dài 01- vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy;
  • - 01 cái kéo màu đen; 02 kềm loại cắt dây điện; 01 đèn soi đeo trước trán; 01 cây móc thân bằng tre được bọc ni lông phần đuôi, đầu móc bằng kim loại; 01 balo màu nâu bên trong có: 01 kềm cộng lực, 01 cờ lê đa giác 1 đầu tròn, 01 đầu lưỡi liềm kí hiệu “KWT CRV22” dài 26cm; 01 cờ lê đa giác 02 đầu tròn dài 29cm; 01 búa đầu kim loại, cán gỗ dài 28cm- các vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy;

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  3. Xử phạt: Bị cáo Võ Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2024;

  4. Áp dụng Điều 30 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm:
  5. Buộc bị cáo Võ Văn H bồi thường cho nguyên đơn dân sự Công ty cổ phần T3 số tiền 56.648 (năm mươi sáu ngàn, sáu trăm bốn mươi tám) đồng;

    Kể từ ngày Công ty cổ phần T3 có đơn yêu cầu bị cáo thi hành khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

  6. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  7. Tịch thu tiêu hủy:

    • + 02 (hai) đoạn dây kim loại màu đồng, mỗi đoạn dài 01 mét;
    • + 01 (một) cái kéo màu đen;
    • + 02 (hai) cái kềm loại cắt dây điện;
    • + 01 (một) cái đèn soi đeo trước trán;
    • + 01 (một) cây móc thân bằng tre được bọc ni lông phần đuôi, đầu móc bằng kim loại;
    • + 01 (một) balo màu nâu bên trong có: 01 kềm cộng lực, 01 cờ lê đa giác 1 đầu tròn, 01 đầu lưỡi liềm kí hiệu “KWT CRV22” dài 26cm; 01 cờ lê đa giác 02 đầu tròn dài 29cm;
    • + 01 (một) cái búa đầu kim loại, cán gỗ dài 28cm;
    • (Theo Phiếu nhập kho số NK25/218C ngày 28/02/2025 của Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)
  8. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
  9. Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí HSST và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí DSST.

  10. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, nguyên đơn dân sự Công ty T3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tổng Công ty Điện lực Thành phố H- Công ty T3 có quyền kháng cáo bản án xin xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - VKSND TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan THA.HS TP. Thủ pĐức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức
  • - Bị cáo;
  • - NDDS;
  • - NCQL, NVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 450/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 450/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger