Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 450/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 04 tháng 7 năm 2024

V/v: Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền.

Ông Phùng Văn Tầu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 681/2023/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc: Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn : Anh Đào Hữu T, sinh năm 1956;

Địa chỉ: Số B, LK 6b, C17 đô thị M, tổ A, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt

-Bị đơn: Chị Tạ Thị Minh N, sinh năm 1973 .

Địa chỉ: Số B, LK 6b, C17 đô thị M, tổ A, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn anh Đào Hữu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Tạ Thị Minh N chung sống với nhau từ năm 2006 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nhưng đến ngày 31/12/2014 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn vợ chồng đi thuê nhà để sống, đến năm 2015 thì về sống tại: Số B, LK 6b, C17 đô thị M, tổ A, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, vợ chồng khác biệt về lối sống, khác biệt về tuổi tác. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh và chị N tuy vẫn sống chung cùng nhà, nhưng không ăn chung, ngủ chung ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cương quyết xin ly hôn chị N.

Về con chung: Anh T xác nhận anh và chị N có 03 con chung là: Đào Như A (nữ), sinh ngày 17/01/2007, Đào Diệu A1 (nữ), sinh ngày 17/01/2007 và Đào Minh Q ( nam ), sinh ngày 29/12/2011. Ly hôn anh T đề nghị Toà án giải quyết để anh là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp nếu không được nuôi cả 03 con chung thì anh T đồng ý để chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đào Như A và Đào Diệu A1 và anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi dưỡng 02 con chung hàng tháng mỗi tháng 5.000.000 đồng, tổng cộng là 10.000.000 đồng, còn đối với tiền học của 02 con thì anh T sẽ tự đóng cho nhà trường. Hiện nay anh T có thu nhập bình quân hàng tháng là lương hưu khoảng hơn 10.000.000 đồng và tiền thuê nhà là khoảng 30.000.000 đồng.

Về tài sản chung ( động sản, bất động sản ): Anh T xác nhận anh và chị N không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Anh T xác nhận anh và chị N không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí : Anh T đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay bị đơn chị Tạ Thị Minh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đào Hữu T chung sống với nhau từ tháng 3 năm 2006, trước khi chị N và anh T đến với nhau thì anh T đã có 02 đời vợ, lúc chị và anh T chung sống với nhau thì do anh T chưa ly hôn với người vợ trước nên vợ chồng chưa đăng ký kết hôn, do vậy đến ngày 31/12/2014 chị và anh T mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có đi lại với người vợ cũ và có quan hệ với người khác nên anh T thường xuyên vắng nhà không chăm lo cho cuộc sống gia đình, trong cách dạy dỗ con thì anh T luôn nhồi nhét tư tưởng xấu cho con thường xuyên nói xấu mẹ và nhà ngoại, mặt khác anh T luôn mặc cảm về tuổi tác, bệnh tật nên anh T thường xuyên theo dõi chị, không tin tưởng chị. Do mâu thuẫn vợ chồng nên giữa chị và anh T đã sống ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Nay anh T xin ly hôn chị thì chị không đồng ý ly hôn vì hiện nay anh T đã già nên chị mong muốn được chăm sóc cho anh T và các con. Chị N mong muốn anh Thịnh suy n lại rút đơn về để cho 02 con gái thi đại học xong thì vợ chồng sẽ thống nhất thuận tình ly hôn, còn nếu anh T vẫn cương quyết xin ly hôn chị thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật và đề nghị anh T hỗ trợ về chỗ ở cho chị khi ra khỏi nhà.

Về con chung: Chị N xác nhận chị và anh T có 03 con chung là Đào Như A (nữ ), sinh ngày 17/01/2007, Đào Diệu A1 ( nữ ), sinh ngày 17/01/2007 và Đào Minh Q ( nam ), sinh ngày 29/12/2011. Trường hợp nếu phải ly hôn thì chị đề nghị Toà án giải quyết để chị là người trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung. Nếu không được nuôi dưỡng cả 03 con chung thì đề nghị Toà án giải quyết để chị là người trực tiếp nuôi 02 con chung là Đào Như A và Đào Diệu A1 và chị N đồng ý để anh T cấp dưỡng nuôi dưỡng 02 con chung hàng tháng mỗi tháng 5.000.000 đồng, tổng cộng là 10.000.000

đồng, còn đối với tiền học của 02 con thì anh T sẽ tự đóng cho nhà trường theo phiếu thu tiền. Hiện nay chị đang làm việc tại Cửa hàng S, mức thu nhập bình quân hàng tháng là 8.000.000 đồng, ngoài ra chị còn bán hàng onlne để kiếm thêm thu nhập.

Về tài sản chung ( động sản, bất động sản ): Chị N xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Chị N xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí : Chị N đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

Anh T vẫn giữ nguyên các yêu cầu nêu trên và đồng ý để chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đào Như A và Đào Diệu A1. Anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi 1 lần với số tiền là 70.000.000 đồng và hỗ trợ cho chị N tìm chỗ ở mới sau khi ly hôn với số tiền là 70.000.000 đồng, tổng cộng là 140.000.000 đồng.

Chị N vẫn giữ nguyên các ý kiến như đã trình bày, không đồng ý ly hôn và đề nghị anh Thịnh suy n lại rút đơn về để cho 02 con gái thi xong đại học thì sẽ thuận tình ly hôn. Trường hợp nếu phải ly hôn thì chị cũng đồng ý với ý kiến của anh T để chị là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và đồng ý với mức cấp dưỡng anh T đưa ra, còn đối với số tiền anh T hỗ trợ chỗ ở cho chị khi ly hôn thì chị không đồng ý vì số tiền đó không đủ để cho 03 mẹ con chị thuê nhà đến khi các con học xong đại học. Chị đề nghị HĐXX hoãn phiên toà để chị và anh T thống nhất thoả thuận thêm về số tiền anh T phải hỗ trợ chị khi chị ra khỏi nhà để tìm chỗ ở mới.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án ngày hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà bộ luật tố tụng dân sự quy định. Các bên đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Sau khi phát biểu đánh giá các tình tiết của vụ án. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đào Hữu T đối với chị Tạ Thị Minh N. Về con chung: Anh T, chị N có 03 con chung là Đào Như A (nữ), sinh ngày 17/01/2007, Đào Diệu A1 ( nữ ), sinh ngày 17/01/2007 và Đào Minh Q ( nam ), sinh ngày 29/12/2011. Ghi nhận sự thống nhất thoả thuận của anh T, chị nguyệt về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung như sau: Giao cho chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đào Như A và Đào Diệu A1; Giao cho anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đào Minh Q. Ghi nhận sự tự nguyện của anh T cấp dưỡng nuôi 02 con chung một lần với số tiền là 70.000.000 đồng và tiền học của các cháu theo phiếu thu của nhà trường kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác; Ghi nhận sự tự nguyện của anh T hỗ trợ chị N số tiền là 70.000.000 đồng để chị N tìm chỗ ở mới sau khi ly hôn; Về tài sản chung, công nợ chung: Anh T, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1].Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, bị đơn là chị Tạ Thị Minh N. Chị N hiện đang cư trú tại: Số B, LK 6b, C17 đô thị M, tổ A, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. Nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2].Về nội dung:

[2.1].Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Hữu T và chị Tạ Thị Minh N chung sống với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng chứng nhận kết hôn ngày 31/12/2014. Hôn nhân của anh T và chị N là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị N Hội đồng xét xử thấy: Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia xẻ, thực hiện các công việc gia đình, có nghĩa vụ sống chung với nhau…………”. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của anh T, chị N thể hiện: Trong cuộc sống hôn nhân anh T, chị nguyệt đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không có sự tin tưởng, tôn trọng nhau. Anh T, chị N tuy vẫn chung sống với nhau cùng một nhà, nhưng không còn tình cảm với nhau và vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án chị N cũng xác nhận quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng vì 02 con gái của chị và anh T chuẩn bị thi vào đại học nên mong muốn anh T rút đơn về để đến khi nào các con thi đại học xong thì sẽ thuận tình ly hôn, từ đó thấy rằng chị N cũng tự nhận thức được hôn nhân của chị và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do vậy lý do chị N không đồng ý ly hôn là không phù hợp với Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị N là có căn cứ chấp nhận phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung: Anh T, chị N đều xác nhận vợ chồng có 03 con chung là Đào Như A (nữ ), sinh ngày 17/01/2007, Đào Diệu A1 ( nữ ), sinh ngày 17/01/2007 và Đào Minh Q ( nam ), sinh ngày 29/12/2011. Ghi nhận sự thống nhất thoả thuận của anh T, chị nguyệt về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung như sau: Giao cho chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đào Như A và Đào Diệu A1; Giao cho anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đào Minh Q. Ghi nhận sự tự nguyện của anh T cấp dưỡng nuôi 02 con chung một lần với số tiền là 70.000.000 đồng và tiền học của các cháu theo phiếu thu của nhà trường kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Đối với số tiền

70.000.000 đồng anh T đồng ý hỗ trợ chị N để chị N tìm chỗ ở mới sau khi ly hôn, xét đây là sự tự nguyện của anh T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với yêu cầu của chị N đề nghị HĐXX hoãn phiên toà để chị và anh T thống nhất thoả thuận thêm về số tiền anh T phải hỗ trợ chị khi chị ra khỏi nhà để tìm chỗ ở mới Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên toà hôm nay anh T chỉ đồng ý hỗ trợ chị N số tiền là 70.000.000 đồng và sẽ có trách nhiệm lo cho các con, còn việc chị N đòi hỏi thêm thì anh không có điều kiện, do đó việc chị N đề nghị HĐXX hoãn phiên toà để thống nhất thoả thuận thêm về số tiền này là không có căn cứ nên HĐXX không chấp nhận.

[2.3]. Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Anh T, chị N xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Về công nợ: Anh T, chị N xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông về việc giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Từ nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81,82,83 của Luật hôn nhân và gia đình, Luật số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227; các Điều 271; 273; 278; 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đào Hữu T đối với chị Tạ Thị Minh N.

Anh Đào Hữu T được ly hôn chị Tạ Thị Minh N.

2.Về con chung: Anh Đào Hữu T và chị Tạ Thị Minh N xác nhận có 03 con chung là Đào Như A (nữ ), sinh ngày 17/01/2007, Đào Diệu A1 ( nữ ), sinh ngày 17/01/2007 và Đào Minh Q ( nam ), sinh ngày 29/12/2011. Ghi nhận sự thống nhất

thoả thuận của anh T, chị nguyệt về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung như sau: Giao cho chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đào Như A và Đào Diệu A1; Giao cho anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đào Minh Q. Ghi nhận sự tự nguyện của anh T cấp dưỡng nuôi 02 con chung một lần với số tiền là 70.000.000 đồng và tiền học của các cháu theo phiếu thu của nhà trường kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của anh T hỗ trợ chị N số tiền là 70.000.000 đồng để chị N tìm chỗ ở mới sau khi ly hôn.

Anh T, chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Anh T, chị N xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về công nợ: Anh T, chị N xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh T đã nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0003834 ngày 02/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt anh T, chị N. Anh T, chị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - THA quận Hà Đông;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường An Dương, quận Lê Chân,
  • thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Thủy

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 450/2024/HNGĐ - ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 450/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Hữu T ly hôn Tạ Thị Minh N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger