Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 450/2024/DS-PT

Ngày: 28/10/2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang

Ông Võ Bảo Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 287/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 364/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Phương M, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ.
  2. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đặng Lê M1, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 21/11/2022).

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1955; địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Lê Phương M ủy quyền cho anh Đặng Lê M1 trình bày: Bà Lê Phương M được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 472, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ, diện tích 547m², MĐSD: Đất chuyên trồng lúa nước (vào sổ cấp GCNQSDĐ số CS04150 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 21/3/2022 cho bà Lê Phương M). Nguồn gốc thửa đất này do bà M nhận chuyển nhượng từ Lê Hoàng G. Trong qua trình sử dụng đất, ông Nguyễn Văn T lấn chiếm sử dụng diện tích 41m² (phần A theo bản trích đo địa chính số: 150/TTKTTNMT ngày 22/02/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C). Vì vậy, bà M khởi kiện ông T với yêu cầu: Yêu cầu ông Nguyễn Văn T trả diện tích 41m² – phần A (theo bản trích đo địa chính). Đồng ý nhận tài sản trên đất là 02 cây Dừa và bồi thường, hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn T số tiền 30.000.000 đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Diện tích đất tranh chấp 41m² là của ông vì ông có sử dụng đất liền kề là 99,2m² (phần B theo bản trích đo địa chính số: 150/TTKTTNMT ngày 22/02/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C) mặc dù phần B này là mương lộ do nhà nước quản lý. Tuy nhiên, diện tích đất phần A và B do ông sử dụng từ rất lâu, từ khoảng năm 1980. Đối với diện tích phần A, ông đang sử dụng trồng 02 cây Dừa. Do đó, ông không đồng ý trả lại đất cho bà M.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại bản án số 29/2024/DSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Phương M đối với ông Nguyễn Văn T.

Buộc ông Nguyễn Văn T trả cho bà Lê Phương M diện tích 41m² – phần A thuộc một phần thửa đất số 472, tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ, MĐSD: Đất chuyên trồng lúa nước (vào sổ cấp GCNQSDĐ số CS04150 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 21/3/2022 cho bà Lê Phương M) và phải tháo dỡ, di dời, đập phá, chặt phá những công trình, kiến trúc, cây trồng có trên đất (kèm theo bản trích đo địa chính số: 150/TTKTTNMT ngày 22/02/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).

Bà Lê Phương M được quyền sử dụng 02 cây Dừa loại A có trên diện tích 41m² – phần A và có nghĩa vụ trả giá trị cho ông Nguyễn Văn T số tiền 1.730.000 đồng.

Công nhận sự tự nguyện của bà Lê Phương M hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn T số tiền 50.000.000 đồng trong việc tháo dỡ, di dời, đập phá, chặt phá những công trình, kiến trúc, cây trồng có trên diện tích 41m² – phần A.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ đã tuyên xử bị đơn ông Nguyễn Văn T đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn T cho rằng phần đất tại vị trí A có diện tích 41m² do ông canh tác từ trước đến nay. Ông đã trồng cây và sử dụng ổn định. Việc bà M nhận chuyển nhượng từ ông G thế nào ông không biết. Ông yêu cầu được tiếp tục sử dụng như từ trước đến nay.

Phía nguyên đơn cho rằng: Bà M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở phần đất chuyển nhượng từ ông G. Phần đất vị trí A nằm trong phần được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M. Lúc đầu bà M đồng ý hỗ trợ 30.000.000 đồng nhưng sau động viên bà M đồng ý 50.000.000 đồng. Do đó, anh đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Phía nguyên đơn chứng minh được quyền sử dụng đất tranh chấp tại vị trí A là do nhận chuyển nhượng từ ông Lê Hoàng G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị đơn canh tác tại vị trí A nhưng không có giấy tờ gì chứng minh. Bản án sơ thẩm tuyên là căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét.

[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Bà M được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 472, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ, diện tích 547m², nguồn gốc thửa đất này do bà M nhận chuyển nhượng từ ông Lê Hoàng G. Bà M cho rằng ông T lấn chiếm diện tích 41m². Vì vậy, bà M khởi kiện ông T yêu cầu ông T trả diện tích 41m² – phần A (theo bản trích đo địa chính). Bà đồng ý nhận tài sản trên đất là 02 cây Dừa và bồi thường, hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn T số tiền 30.000.000 đồng. Ông T cho rằng diện tích đất tranh chấp 41m² là của ông vì ông có sử dụng đất liền kề là 99,2m² (phần B) mặc dù phần B này là mương lộ do nhà nước quản lý. Tuy nhiên, diện tích đất phần A và B do ông sử dụng từ rất lâu, từ khoảng năm 1980. Đối với diện tích phần A, ông đang trồng 02 cây Dừa. Do đó, ông không đồng ý trả lại đất cho bà M.

Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông T cho rằng diện tích đất gồm phần A (có diện tích 41m²) và phần B (có diện tích 99,2m²) đều thuộc quyền sử dụng đất của ông, không phải đất của bà M nhưng ông không cung cấp được tài liệu, chứng cứ đủ để chứng minh. Phía bà M đã chứng minh đất của bà tại vị trí A nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp tại thửa đất số 472. Phần đất vị trí B (có diện tích 99,2m² ) thuộc diện tích mương lộ. Ông T không có quyền sử dụng đất do đó yêu cầu khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất của bà M là có căn cứ.

Việc ông T cho rằng lúc bà M chuyển nhượng thì ông không ký tên giáp ranh nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M là không đúng quy định. Tuy nhiên, sau khi xem xét hồ sơ thì thửa đất của bà M đều có thực hiện đo đạc, xác định ranh giới, mốc giới thửa đất, có các chủ đất liền kề ký tên vào biên bản đo đạc, xác định ranh giới, mốc giới thửa đất, việc ông T không có ký tên vào biên bản là do ông không có quyền sử dụng đất liền kề được Nhà nước công nhận. Cho nên, việc chuyển nhượng giữa bà M và ông G là đúng quy định pháp luật, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T. Bản án sơ thẩm Buộc ông T trả cho bà M diện tích 41m² – phần A và phải tháo dỡ, di dời, những công trình, kiến trúc, cây trồng có trên đất là có căn cứ nên giữ nguyên bản án. Yêu cầu kháng cáo của ông T là không có căn cứ.

[3] Về tài sản có trên đất là 02 cây Dừa loại A của ông Nguyễn Văn T, bà Lê Phương M đồng ý nhận và trả giá trị 1.730.000 đồng. Xét yêu cầu này phù hợp với quy định của pháp luật và giá trị mà Hội đồng định giá đã định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Đối với việc bà Lê Phương M đồng ý hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn T số tiền 50.000.000 đồng trong hỗ trợ việc tháo dỡ, di dời những công trình, kiến trúc, cây trồng có trên đất. Đây sự tự nguyện của bà M, không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội nên công nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T không phải chịu do là người cao tuổi.

[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 10.000.000 đồng. Do bà M đã chi xong nên ông T có nghĩa vụ trả lại cho bà M 10.000.000 đồng.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T không phải chịu do là người cao tuổi.

[8] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 166; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
  • - Điều 158; Điều 160; Điều 161; Điều 163; Điều 164; Điều 166; Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Phương M đối với ông Nguyễn Văn T.

Buộc ông Nguyễn Văn T trả cho bà Lê Phương M diện tích 41m² – phần A thuộc một phần thửa đất số 472, tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ, MĐSD: Đất chuyên trồng lúa nước (vào sổ cấp GCNQSDĐ số CS04150 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 21/3/2022 cho bà Lê Phương M) và phải tháo dỡ, di dời, đập phá, chặt phá những công trình, kiến trúc, cây trồng có trên đất (kèm theo bản trích đo địa chính số: 150/TTKTTNMT ngày 22/02/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).

Bà Lê Phương M được quyền sử dụng 02 cây Dừa loại A có trên diện tích 41m² – phần A và có nghĩa vụ trả giá trị cho ông Nguyễn Văn T số tiền 1.730.000 đồng.

Công nhận sự tự nguyện của bà Lê Phương M hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn T số tiền 50.000.000 đồng trong việc tháo dỡ, di dời tài sản trên diện tích 41m² – phần A.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.

Bà Lê Phương M được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009858 ngày 10/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ.

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 10.000.000 đồng. Bà M đã chi xong nên ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả lại cho bà Lê Phương M số tiền 10.000.000 đồng.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T được miễn do là người cao tuổi.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND huyện Cờ Đỏ;
  • - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 450/2024/DS-PT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 450/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ Le Phuong M tranh chap QSDĐ voi BĐ Nguyen Van T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger