Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-5-2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thế Thị Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Thắm
  2. Bà Nguyễn Kim Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 149/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1996 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ C, khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Ông Văn Tấn Đ, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ C, khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 22/01/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:

- Về hôn nhân : Qua một thời gian tìm hiểu, bà L và ông Văn Tấn Đ tự nguyện kết hôn, làm đám cưới được 02 bên gia đình đồng ý vào năm 2012. Đến ngày 27/10/2012 thì bà L sinh cháu Văn Ngọc Tường V. Đến ngày 02/4/2014 thì bà L với ông Đ mới đăng ký kết hôn tại UBND phường C (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương.

Sau khi đám cưới và chung sống với nhau, vợ chồng chỉ hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do ông Đ không lo làm ăn mà ham chơi

2

bài bạc, đá gá. Ông Đ không có việc làm ổn định, không lo kinh tế gia đình, một mình bà L phải lo kinh tế trong gia đình. Bà L nhiều lần khuyên bảo nhưng ông Đ không thay đổi do đó vợ chồng ngày càng phát sinh thêm mâu thuẫn. Tuy nhiên vì thương con nên bà L vẫn cố gắng chịu đựng chung sống với ông Đ. Đến ngày 16/7/2019 bà L sinh cháu Văn Tấn Đ1. Vợ chồng sinh thêm cháu Đại để mong ông Đ thay đổi chí thú làm ăn nhưng ông Đ vẫn không thay đổi, vẫn ham mê bài bạc, không phụ lo kinh tế với bà L. Vợ chồng ngày càng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hòa hợp. Vì quá mâu thuẫn không thể chung sống với ông Đ nên bà L đã đem cháu Đ1 về nhà mẹ ruột sinh sống từ đầu tháng 01/2024 và đã ly thân với ông Đ từ đó đến nay.

Hiện tình cảm của bà L với ông Đ không còn, vợ chồng đã mâu thuẫn quá trầm trọng, không thể nào tiếp tục chung sống với ông Đ được nữa. Do đó bà L yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

- Về con chung : Bà L và ông Đ có 02 con chung là cháu Văn Ngọc Tường V, sinh ngày 27/10/2012 và cháu Văn Tấn Đ1, sinh ngày 16/7/2019. Cháu V hiện do ông Đ nuôi dưỡng, cháu Đ1 do bà L nuôi dưỡng. Hiện cháu V do ông Đ nuôi dưỡng đã ổn định, cháu cũng có nguyện vọng ở với ông Đ. Do đó ly hôn bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ1, giao cháu V cho ông Đ nuôi dưỡng ; không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung : Bà L không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà L yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Văn Tấn Đ đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát :

- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quan hệ pháp luật các bên tranh chấp là tranh chấp về ly hôn, nuôi con; bị đơn cư trú tại khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

3

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Văn Tấn Đ có đăng ký kết hôn vào ngày 02/4/2014 tại UBND phường C (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương. Hôn nhân tự nguyện, do đó hôn nhân giữa bà L và ông Đ là hợp pháp.

Bà L yêu cầu ly hôn với ông Đ vì vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm đầu sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn và không thể hàn gắn được. Ông Đ không lo làm ăn, không lo kinh tế trong gia đình. Bà L nhiều lần khuyên bảo nhưng ông Đ không thay đổi do đó vợ chồng ngày càng phát sinh thêm mâu thuẫn. Tuy nhiên vì thương con nên bà L vẫn cố gắng chịu đựng chung sống với ông Đ. Vợ chồng không còn tình cảm với nhau, đã sống ly thân từ tháng 01/2024 đến nay và không còn quan tâm chăm sóc nhau. Hiện vợ chồng mâu thuẫn đã quá trầm trọng không thể tiếp tục hôn nhân, tình cảm của bà L với ông Đ đã hết nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông Đ đến tham gia hòa giải đoàn tụ, tham gia tố tụng cũng như tham gia phiên tòa nhưng ông Đ không tham gia và cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Điều này cho thấy ông Đ không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không muốn hàn gắn với bà L. Bà L và ông Đ không còn chung sống, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau.

Như vậy, mâu thuẫn giữa bà L và ông Đ đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì hôn nhân, do đó yêu cầu ly hôn của bà L là có căn cứ và được chấp nhận.

Về con chung: Bà L và ông Đ có 02 con chung là cháu Văn Ngọc Tường V, sinh ngày 27/10/2012 và cháu Văn Tấn Đ1, sinh ngày 16/7/2019. Cháu V hiện do ông Đ nuôi dưỡng, cháu Đ1 do bà L nuôi dưỡng. Hiện cháu V do ông Đ nuôi dưỡng đã ổn định, cháu cũng có nguyện vọng ở với ông Đ. Do đó bà L yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ1 là phù hợp và được chấp nhận. Giao cháu V cho ông Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L và ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông Đ cũng không có ý kiến gì vấn đề này nên không xem xét giải quyết.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L phải chịu theo quy định pháp luật.

[4] Các đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

4

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L đối với bị đơn ông Văn Tấn Đ về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”; bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với ông Văn Tấn Đ.
  2. Về con chung: Giao cháu Văn Ngọc Tường V, sinh ngày 27/10/2012 cho ông Văn Tấn Đ trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Văn Tấn Đ1, sinh ngày 16/7/2019 cho bà Nguyễn Thị Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L và ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Bà L và ông Đ đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không xem xét giải quyết.
  4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

    Bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0004816 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát (nay là thành phố B) tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND phường Chánh Phú Hòa, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: HS, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thế Thị Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L đối với bị đơn ông Văn Tấn Đ về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger