Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

—————————

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31/5/2024

V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Diệp Chanh Tha và bà Phước Thị Kim Huê

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đoàn Tố Quyên, Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 85/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 3 năm 2024, về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Ú, sinh ngày 01/01/1990. Địa chỉ: ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Kim Ngọc D, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/20/2023, nguyên đơn bà Lâm Thị Ú trình bày: Năm 2011 bà và ông Kim Ngọc D quen biết nhau và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã, huyện T, tỉnh Sóc Trăng ngày 10/5/2011. Sau ngay cưới vợ chồng chung sống bên chồng tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Quá trình chung sống hạnh phúc và có 01 con chung tên Kim Lâm Gia H, sinh ngày 29/12/2011, hiện nay con chung đang sống với ông D. Về tài sản chung, nợ chung không có. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn được, nguyên nhân do ông D có tính gia trưởng, không tôn trọng bà, không quan tâm chăm sóc vợ con, ích kỷ, thích làm theo ý mình, không quan tâm đến cảm xúc của bà khi bà có ý kiến thì thường xuyên cự cãi, không ai quan tâm đến ai nên bà bỏ đi Bình Dương tìm việc làm và sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nguyên đơn bà ông Lâm Thị Ú yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Kim Ngọc D. Về con chung tuỳ theo nguyện vọng của con ở với ai thì người đó nuôi, nếu bà được nuôi con thì bà không yêu cầu ông Kim Ngọc D phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết; do bà đi làm thuê ở xa không đến Tòa án tham gia tố tụng được nên bà Lâm Thị Ú đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/5/2024, bị đơn ông Kim Ngọc D trình bày: Thống nhất với bà Ú về thời gian xác lập quan hệ vợ chồng, thời gian đăng ký kết hôn, con chung cũng như không có tài sản chung và nợ chung. Bị đơn ông Kim Ngọc D cho rằng, nguyên nhân mâu thuẫn gia đình do bà Ú hay tụ tập bàn bè uống rượu, bia, còn xâm mình, trong khi cha ông là giáo viên có uy tín ở địa phương, nhưng con dâu mình là phụ nữ mà lại xâm trổ, ông góp ý thì bà Ú không nghe, từ đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bà Ú bỏ nhà đi hơn 07 năm nay (tỉnh thoảng về ghé thăm con rồi đi). Nay bà Ú yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý. Về con chung nếu cháu ở với ai người đó nuôi, nếu ở với ông thì ông không yêu cầu bà Ú cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

  • * Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án, Thành phần Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa có tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Ú thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Kim Ngọc D vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • * Về nội dung vụ án: Nguyên đơn bà Lâm Thị Ú, bị đơn ông Kim Ngọc D xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã, huyện T, tỉnh Sóc Trăng ngày 10/5/2011 theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa bà Ú và ông D là hợp pháp. Kết quả thu thập chứng cứ, xác minh của Tòa án có căn cứ cho thấy hôn nhân của bà Lâm Thị Ú, bị đơn ông Kim Ngọc D lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân có duy trì cũng không đạt được và 02 bên thuận tình ly hôn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 và các điều 147, 207, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 54, 55, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị Ú, cho bà Lâm Thị Ú được ly hôn với ông Kim Ngọc D. Giao cho ông Kim Ngọc D được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Kim Lâm Gia H, sinh ngày 29/12/2011 (theo nguyện vọng con chung), bà Lâm Thị Ú không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí đề nghị buộc bà Ú phải chịu 300.00 đồng theo quy định của pháp luật.

Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Nguyên đơn bà Lâm Thị Ú, bị đơn ông Kim Ngọc D vắng mặt trong quá trình tố tụng và cả hai đương sự đều có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự.
  2. Nguyên đơn bà Lâm Thị Ú, bị đơn ông Kim Ngọc D xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã, huyện T, tỉnh Sóc Trăng ngày 10/5/2011 theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa bà Ú và ông D là hợp pháp và phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nguyên đơn bà Ú, bị đơn ông D có lời khai xác định cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn được. Về nguyên nhân mâu thuẫn gia đình giữa bà Ú, bị đơn ông D trình bày khác nhau nhưng cả hai xác định vợ chồng không cùng quan điểm khi bàn bạc về cuộc sống gia đình, thường xuyên cự cãi, không ai còn quan tâm đến ai, bà Ú và ông D sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho bà Ú và ông D biết tham gia các phiên hòa giải, kể cả tham gia phiên tòa xét xử vụ án để Tòa án hòa giải, tạo điều kiện cho bà Ú và ông D sửa chữa, khắc phục các mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình, để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nhưng không có kết quả, do bà Ú và ông D thuận tình ly ly hôn. Xét thấy hôn nhân của bà Ú và ông D ngày càng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân có duy trì cũng không đạt được. Căn cứ Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Ú và ông D.
  3. Nguyên đơn bà Ú, bị đơn ông D có lời khai xác định vợ chồng có 01 con chung tên Kim Lâm Gia H, sinh ngày 29/12/2011 hiện nay con chung đang sống với ông D. Do bà Ú không có ý kiến tranh chấp với ông D về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; nguyện vọng của cháu Kim Lâm Gia H muốn được sống chung với ông D nên cần giao con chung cho ông D được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông D không yêu cầu bà Ú cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
  4. Về tài sản chung, nợ chung bà Lâm Thị Ú, ông D trình bày không có nên không xem xét.
  5. Quan điểm phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  6. Nguyên đơn ông Lâm Thị Ú phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn ông Kim Ngọc D không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 và các điều 147, 207, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các điều 5, 9, 54, 55, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị Ú. Cho bà Lâm Thị Ú được ly hôn với ông Kim Ngọc D.
  2. Giao cho ông Kim Ngọc D được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Kim Lâm Gia H, sinh ngày 29/12/2011 (theo nguyện vọng con chung), bà Lâm Thị Ú không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.
  4. Buộc ông Lâm Thị Ú chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Lâm Thị Ú đã nộp bằng 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001759 ngày 11/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú. Bị đơn ông Kim Ngọc D không phải chịu án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - CCTHADS huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - UBND xã Viên Bỉnh, H.Trần Đề;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Truyền

5

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phước Thị Kim Huê

Diệp Chanh Tha

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hôn nhân Út- Vinh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger