Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/5/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Q

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc T

2. Bà Hoàng Thị N

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải H- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị L - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2023/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐXX ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H - Sinh năm 2000

HKTT: SN 334 đường V, phố P, phường T, thành phố Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: SN 82 thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Phan Huy M - Sinh năm 1996

Địa chỉ: SN 334 đường V, phố P, phường T, thành phố Thanh Hóa.

(Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hoàng Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phan Huy M kết hôn với nhau năm 2021 trên cơ sở tự nguyện, có Đ ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn anh chị chung sống H phúc chỉ được một gian gian ngắn đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, hơn nữa anh M không tu trí làm ăn, thiếu quan tâm chăm sóc đến vợ con, nên không khí gia đình luôn căng thẳng nặng nề. Mâu thuẫn của vợ chồng cũng được hai bên gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng không có kết quả, mà ngày càng trầm trọng hơn. Kể từ cuối năm 2022 đến nay chị cùng con bỏ về nhà bố mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân, không ai còn quan tâm chăm sóc đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thật sự không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.

Về con: Anh chị có một con chung: Cháu Phan Huy Hải Đ – sinh ngày 10/4/2021, hiện nay cháu đang ở với chị. Ly hôn, do cháu còn nhỏ nên chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hải Đ, không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các V bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra giao nộp chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Phan Huy M theo quy định của pháp luật nhưng anh M không đến Tòa án theo giấy triệu tập.

Thu thập chứng cứ tại địa phương: Anh Phan Huy M và chị Hoàng Thị H kết hôn với nhau năm 2021 và chung sống với nhau tại địa phương. Quá trình vợ chồng chung sống vợ chồng anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nhưng nguyên nhân như thế nào thì phố không năm được. Nhưng địa phương được biết vợ chồng anh M và chị H đã sống ly thân, chị H không còn ở địa phương, còn anh M đi làm, cứ hai đến 3 ngày mới về nhà một lần. Về con: Anh M, chị H có một con chung là cháu Phan Huy Hải Đ sinh năm 2021. Về tài sản công nợ của anh chị địa phương không nắm được. Về nghề nghiệp của anh M thì địa phương được biết anh làm nghề tự do, còn chị H làm nghề chăm sóc tóc, thu nhập cụ thể như thế nào địa phương không rõ. Đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Tại phiên tòa vắng mặt anh M, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không bổ sung thêm nội dung nào khác.

Đại diện VKS phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS để xét xử. Về yêu cầu khởi kiện: đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phan Huy M có địa chỉ tại thành phố Thanh Hóa, nên Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Phan Huy M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa...nhưng anh M vẫn không đến Tòa án làm việc, tại phiên tòa vắng mặt anh Sơn, nên HĐXX căn cứ vào Điều 227, Điều 228 BLTTDS để xét xử.

[2] Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Phan Huy M kết hôn với nhau có Đ ký kết hôn tại UBND phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị H thấy rằng: Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Thực tế cho thấy, hôn nhân muốn tồn tại trước hết vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng, có trách nhiệm và chung sống hòa thuận với nhau, cùng nhau xây dựng kinh tế, H phúc gia đình. Qua xem xét lời khai của chị H, cung cấp của chính quyền địa phương nơi anh chị sinh sống thể hiện: vợ chồng chị H anh M do bất đồng quan điểm sống, cả vợ và chồng không hiểu nhau, không cùng quan điểm, không chung chí hướng dẫn đến cải chửi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, cũng đã được gia đình khuyên bảo nhưng đến nay vẫn không giải quyết được mâu thuẫn. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, anh M đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để thể hiện quan điểm ý kiến, không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa, là từ bỏ quyền được trình bày thể hiện ý kiến, mặc nhiên để chị H đơn phương ly hôn. Do đó, xác định mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân giữa chị H anh M không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh M.

[3] Về con chung: Anh chị có một con chung là cháu Phan Huy Hải Đ – sinh ngày 10/4/2021. Kể từ năm 2022 anh M chị H sống ly thân cho đến nay, các cháu ở với chị H, chị vẫn nuôi dạy cháu đảm bảo về mọi mặt. Chị H có chỗ ở, công việc và thu nhập ổn định và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ. Hơn nữa, cháu Đ còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ. Do vậy giao cháu Đ cho cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, anh M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1.1 điều 1 phần II, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, chị Hoàng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27, khoản 1.1 Điều 1 phần II, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Phan Huy M

Về con chung: Công nhận cháu Phan Huy Hải Đ sinh ngày 10/4/2021 là con chung của chị Hoàng Thị H và anh Phan Huy M. Giao cháu M cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Chị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001059 ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa. Chị H đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Chị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPTH;
  • - THA DS TP.Thanh Hoá;
  • - UBND P. T, Tp Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Q

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H khởi kiện ly hôn anh M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger