Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CON CUÔNG

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 29 tháng 11 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Thanh

Ông Lộc Văn Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hoài N, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1996 huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình M và bà Vi Thị H; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 29/11/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 51/2013/HSST. Hiện đã được xóa án tích.
  • - Ngày 04/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 08/QĐ-TA.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2024 đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện C. Có mặt.

2

Bị hại:

  • - Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Anh Trần Thanh N1, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Làng M, xã T, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Anh La Văn D, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Bản M, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Chị Lê Thị H2, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Chị Lường Thị L, sinh năm 2008. Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Cảnh T, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Bản K, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Anh Lương Minh H3, sinh năm 2010. Nơi cư trú: Bản Y, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Anh Vi Văn T1, sinh năm 2008. Nơi cư trú: Bản K, xã T, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Chị Triệu Thị L1, sinh năm 2003. Nơi cư trú: Bản M, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Bà Vi Thị L2, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Bản M, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Phạm Thị A, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xử vắng mặt.
  • - Anh Hồ Tuấn A1, sinh năm 1999. Nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • - Anh Phan Văn T2, sinh năm 1997. Nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị L3, sinh năm 1973. Nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • - Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 24/8/2024 đến ngày 09/9/2024, Phạm Hoài N đã 04 lần có hành vi trèo tường đột nhập vào Bệnh viện Đ1 có trụ sở tại thôn L, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản của bác sĩ, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Cụ thể như sau:

3

Lần thứ nhất: Vào khoảng 00 giờ ngày 24/8/2024, Phạm Hoài N đi bộ từ nhà trọ của mình ở thôn L, xã B, huyện C đi đến vườn cam của người dân gần bệnh viện rồi trèo tường vào khuôn viên của Bệnh viện Đ1. Sau đó, N đi vào khoa Hồi sức cấp cứu, trèo qua ô cửa sổ thông gió vào nhà vệ sinh rồi đột nhập vào phòng làm việc anh Bùi Văn H1, sinh năm 1965 là Bác sỹ Trưởng khoa hồi sức cấp cứu lục tìm lấy trộm tài sản. N đã lấy trộm 01 (một) chiếc đồng hồ nhãn hiệu ORIENT màu vàng để trong tủ làm việc rồi sau đó trèo theo đường cũ ra ngoài. Tiếp đó, N đi vào phòng bệnh nhân số 6, thuộc K hồi sức cấp cứu lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A96 màu đen của anh Trần Thanh N1, sinh năm 1977, trú tại Làng M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An lúc này đang ngủ. N tiếp tục đi sang phòng bệnh nhân số 2 thuộc K1 rồi lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S màu đen của anh La Văn D, sinh năm 1988, trú tại bản Mét, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An và 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE XS MAX của chị Lê Thị H2, sinh năm 1993, trú tại thôn L, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Sau khi lấy trộm được số tài sản trên Nam đi về nhà trọ của mình ngủ. Đến 09 giờ cùng ngày, N đưa chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX đến cửa hàng sửa chữa điện thoại cho anh Hồ Tuấn A1, sinh năm 1999, trú tại khối E thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An với giá 1.400.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày N đưa 02 (hai) chiếc điện thoại còn lại đến bán tại cửa hàng sửa chữa điện thoại của chị Lê Thị A2, sinh năm 1981, trú tại thôn C, xã Đ, huyện A với giá 1.150.000 đồng. Còn chiếc đồng hồ mang nhãn hiệu ORIENT màu vàng thì N đưa cho anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An sử dụng.

Lần thứ hai: Vào khoảng 01 giờ ngày 31/8/2024, N tiếp tục trèo tường đột nhập vào Bệnh viện Đ1. Sau đó, N đi vào phòng bệnh nhân số 7 Khoa Nhi của Bệnh viện lấy trộm 02 (hai) chiếc điện thoại gồm: 01 chiếc điện thoại IPHONE 6 PLUS, màu trắng của chị Lường Thị L, sinh năm 2008, trú tại thôn C, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An và 01 (một) chiếc điện thoại mang nhãn hiệu OPPO A1K của anh Nguyễn Cảnh T, sinh năm 1965, trú tại bản K, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Sau khi lấy được tài sản N theo lối cũ đi về nhà trọ của mình ngủ. Đến sáng ngày 31/8/2024 N đưa 02 (hai) chiếc điện thoại trên đến bán tại cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại của anh Phan Văn T2, sinh năm 1997, trú tại khối E, thị trấn C, huyện C với giá 1.000.000 đồng.

4

Lần thứ ba: Khoảng 01 giờ ngày 03/9/2024, Nam theo đường cũ đột nhập vào Bệnh viện Đ1. Sau đó, N đi vào phòng bệnh số 2 Khoa N2 lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 PRIME màu vàng của anh Lương Minh H3, sinh năm 2010, trú tại bản Y, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An rồi đi sang K bệnh nhiệt đới lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu ZTE BLADE V50 màu đen của anh Vi Văn T1, sinh năm 2008, trú tại bản K, xã T, huyện C, tỉnh Nghệ An. Sau khi lấy trộm được 02 (hai) chiếc điện thoại thì N đi ra theo đường cũ về nhà trọ để ngủ. Đến sáng ngày 03/9/2024, Nam bán chiếc điện thoại SAMSUNG J7 PRIME màu vàng tại cửa hàng mua bán điện thoại của anh Phan Văn T2 với giá 400.000 đồng và bán chiếc điện thoại ZTE BLADE V50 màu đen cho cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại của chị Nguyễn Thị L3, sinh năm 1973, địa chỉ: K, thị trấn C, huyện C với giá 1.500.000 đồng.

Lần thứ tư: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 09/9/2024, N tiếp tục theo đường cũ đột nhập vào Bệnh viện Đ1. N đi đến giường bệnh số 01 ở hành lang Khoa Sản lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại IPHONE 6 màu xám của chị Triệu Thị L1, sinh năm 2003, trú tại bản Mọi, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Rồi đi sang Khoa bệnh nhiệt đới lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại OPPO A16K màu xanh của chị Vi Thị L2, sinh năm 1962, trú tại bản Ngọn, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi lấy trộm được tài sản thì N đi bộ về, trên đường về N thấy chiếc điện thoại IPHONE 6 cài mật khẩu. Do không mở được mật khẩu nên N đã vứt chiếc điện thoại đó xuống giếng của Bệnh viện. Còn chiếc điện thoại OPPO A16K thì N lấy để sử dụng. Ngày 10/9/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Hoài N.

Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGHTS ngày 17/9/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

  • - 01 (một) Chiếc đồng hồ mang nhãn hiệu ORIENT, màu vàng, mặt sau màu bạc, có số F490-UAA0 B9T1923, đã qua sử dụng có giá: 1.800.000 đồng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A96, màu đen, số IMEI 1: 866347043867298, IMEI 2: 866347043867280, đã qua sử dụng có giá: 3.200.000 đồng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S, màu đen, có số IMEI 1: 860941044360091, IMEI 2: 860941044960098, bị hỏng nút nguồn, đã qua sử dụng có giá: 1.200.000 đồng;

5

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX, màu vàng, số IMEI: 353890100070090, đã qua sử dụng có giá: 4.800.000 đồng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 PLUS, màu trắng, có số IMEI: 353333073889287, đã qua sử dụng có giá: 1.300.000 đồng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K, màu đen, số IMEI 1: 863539042297153, IMEI 2: 863539042297146, đã qua sử dụng có giá: 800.000 đồng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Prime, màu vàng có số IMEI 1: 353415088857837, IMEI 2: 353416088857835, đã qua sử dụng có giá: 600.000 đồng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ZTE Blade V50 màu đen, số IMEI: 869518062554440, đã qua sử dụng có giá: 1.500.000 đồng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6, màu xám, số IMEI: 355356089916578, đã qua sử dụng có giá: 1.200.000 đồng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K, màu xanh, số IMEI 1: 8633480544853659, số IMEI 2: 863348054853642, đã qua sử dụng có giá 1.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Phạm Hoài N đã lấy trộm là: 17.400.000 đồng”.

Cáo trạng số 48/CT-VKS-CC ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông truy tố bị cáo Phạm Hoài N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố và luận tội đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phạm Hoài N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Phạm Hoài N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H4) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về phần dân sự nên đề nghị không xem xét;
  • - Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Phạm Hoài N phải bồi thường cho những có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Tuấn A1 số tiền 1.400.000 đ

6

(Một triệu bốn trăm nghìn đồng); Anh Phan Văn Thông S tiền 1.400.000 đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng); Chị Phạm Thị A số tiền 1.000.000 đ (Một triệu đồng); Chị Nguyễn Thị L3 số tiền 1.500.000 đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận, bị cáo nhận tội. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án và tài sản đã được trả lại cho chủ sở hữu. Do đó, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 24/8/2024 đến ngày 09/9/2024, bị cáo Phạm Hoài N đã 04 lần đột nhập vào Bệnh viện Đ1 để lấy trộm 01 (một) chiếc đồng hồ và 09 (chín) chiếc điện thoại di động của bác sỹ, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân với tổng giá trị tài sản trộm cắp được là 17.400.000 (Mười bảy triệu bốn trăm nghìn) đồng. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp

7

luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 04 lần thực hiện hành vi “trộm cắp tài sản” nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm dân sự.
  • Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Hồ Tuấn A1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.400.000 đồng; Anh Phan Văn T2 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.400.000 đồng; Chị Phạm Thị A yêu bị cáo trả lại số tiền 1.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thị L3 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.500.000 đồng. Xét yêu cầu của anh A, anh T2, chị A và chị L3 là chính đáng nên được chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản cho bị hại là đúng quy định của pháp luật.

[8] Đối với anh Hồ Tuấn A1, anh Phan Văn T2, chị Phạm Thị A, chị Nguyễn Thị L3, anh Nguyễn Xuân Đ là những người mua điện thoại và sử dụng đồng hồ do Phạm Hoài N trộm cắp mà có nhưng những người này không biết được đó là tài sản do N trộm cắp nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g, khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt

8

bị cáo Phạm Hoài N 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 10/9/2024).

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Phạm Hoài N phải bồi thường cho: Anh Hồ Tuấn A1 số tiền 1.400.000 đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng); Anh Phan Văn Thông S tiền 1.400.000 đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng); Chị Phạm Thị A số tiền 1.000.000 đ (Một triệu đồng); Chị Nguyễn Thị L3 số tiền 1.500.000 đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Hoài N phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

5. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp Nghệ An;
  • - VKSND huyện Con Cuông;
  • - Chi cục THADS Con Cuông;
  • - Công an huyện Con Cuông;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hoài Nam - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger