|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 29/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.
Các Hội thẩm Tòa án nhân dân:
- Ông Thái Quang Định.
- Bà Vũ Thị Xuyến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Thị Tuyết M, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2001 tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thống Nhất 3, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: phòng 806, Toà nhà S5, khu Chung cư S, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; chồng: chưa có, có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/01/2024 hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên toà.
-
Người chứng kiến:
- - Chị Đỗ Thị Kim L, sinh năm 1997.
-
Hộ khẩu thường trú: thôn Ô Mễ 3, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Nơi ở: tổ 7, khu N, phường N, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
- - Anh Trần Quang T, sinh năm 1984.
-
Địa chỉ: tổ 9, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 17/01/2024 tại tổ 27A, khu P, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác Công an phường Nam Khê phối hợp cùng Công an phường Yên Thanh phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thị Tuyết M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải M đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa 01 túi nilon bên trong chứa 0,465gam chất bột màu trắng và 02 viên nén hình hộp chữ nhật, màu hồng, một mặt mỗi viên có chữ “HERMES”, mặt còn lại mỗi viên có chữ “H”, tổng khối lượng 0,867gam. Ngoài ra, còn thu giữ của M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, bên trong lắp sim số 0898.092.828.
Bản Kết luận giám định số 152/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận:
-
Hai viên nén hình hộp chữ nhật màu hồng, một mặt một mặt mỗi viên có chữ “HERMES”, mặt còn lại mỗi viên có chữ “H” là ma túy loại: MDMA, tổng khối lượng 0,867 gam;
-
Chất bột màu trắng bên trong túi nilon là ma túy loại: Ketamine, khối lượng 0,465gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Tuyết M khai nhận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 16/01/2024, Nguyễn Thị Tuyết M nảy sinh nhu cầu sử dụng ma túy, M gọi điện thoại cho một người phụ nữ tên Ủn hỏi mua 02 viên ma túy “kẹo”, Ủn báo 1.000.000 đồng, M đồng ý. M một mình đi taxi đến phòng trọ của Ủn tại tổ 34, khu 3, phường H, thành phố H, Quảng Ninh gặp Ủn và chị Trần Thị Ngọc A. Tại đây, Ủn bảo M gửi 1.000.000 đồng vào số tài khoản của chị Ngọc A. Chuyển tiền xong, M hẹn Ủn tối đến lấy ma túy. Khoảng 23 giờ cùng ngày, M đi taxi đến phòng trọ của Ủn để lấy ma túy. Tại đây, Ủn đưa cho M 01 gói giấy màu trắng, tin tưởng là ma túy, M cất vào túi quần bên phải và đi taxi về phòng trọ. Đến nơi, M kiểm tra gói giấy màu trắng Ủn đưa, xác định đúng ma túy “kẹo”. M lấy gói ma túy Ketamine mua từ trước và gói ma túy vừa mua của Ủn cho vào 01 gói giấy màu trắng, cho cả vào 01 túi nilon màu trắng, cất vào túi quần phía trước bên phải M mặc. Sau đó, M đi taxi đến quán Louge & Bar AMG tại phường Y, thành phố U để sử dụng ma túy thì M bị lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ ma tuý và tạm giữ một số tài sản.
Người chứng kiến chị Đỗ Thị Kim L và anh Trần Quang T đều có lời khai trong quá trình điều tra phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.
Tại Cáo trạng số 305/CT - VKSUB ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M có lời khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với Nguyễn Thị Tuyết M như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M từ 21 đến 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2024.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
-
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số: 152/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và 01 sim điện thoại số 0898.092.xxx.
-
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng.
Bị cáo không tranh luận với lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 22 phút ngày 17/01/2024 tại tổ 27A, khu P, phường Y, thành phố U, Nguyễn Thị Tuyết M bị bắt quả tang khi có hành vi tàng trữ trái phép 0,867 (không phẩy tám sáu bảy) gam ma túy MDMA và 0,465 (không phẩy bốn sáu lăm) gam ma túy Ketamine, mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Hình phạt chính:
Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có 01 con còn nhỏ (sinh năm 2017), bị cáo chưa có gia đình riêng nên Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để bị cáo rèn luyện, giáo dục và sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt có ý thức chấp hành pháp luật.
[3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng (năm triệu đồng) đến 500.000.000đồng (năm trăm triệu đồng). Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang chấp hành hình phạt nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số: 152/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 sim điện thoại số 0898.092.xxx không có giá trị nên tịch thu, tiêu huỷ.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, bị cáo đã dùng điện thoại này để giao dịch mua ma tuý, là công cụ, phương tiện tạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước
[5] Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ tên Ủn bán ma túy cho M vào ngày 16/01/2024, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ nên không đề cập xử lý.
Đối với chị Trần Thị Ngọc A nhận tiền M chuyển khoản do tài khoản ngân hàng của Ủn bị lỗi, chị A không biết Ủn bán ma túy cho M nên không đề cập xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ:
Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 17 tháng 01 năm 2024.
-
Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
Căn cứ: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
-
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số: 152/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và 01 sim điện thoại số 0898.092.xxx.
-
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng.
(Tình trạng và đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 00 phút, ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
-
-
Về án phí:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí, lệ phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
-
Quyền kháng cáo:
Căn cứ: Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Tuyết M- Tàng trữ trái phép chất ma túy
