|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.
- Hội Thẩm nhân dân: Ông Ngô Bá Tiến.
- Bà Nguyễn Thị Bẩy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Huy Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2023/TLST-HNGĐ ngày 08/12/2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phạm Đình P, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1985; HKTT: Thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; Hiện trú tại: P, r.Mockba, yr Rpocrabckoe w.gom 146 K2 Komhata 12.34. Cộng hòa liên bang N (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Phạm Đình P trình bày: Anh và chị Lê Thị H có tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G vào ngày 13/6/2008. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống cùng gia đình. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hòa hợp, hạnh phúc. Năm 2016 chị H đi lao động tại Nga, do khoảng cách địa lý, bất đồng nhiều việc trong cuộc sống, nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, hai vợ chồng đã ly thân, không còn nói chuyện quan tâm đến nhau nữa. Nay anh xác định vợ chồng không còn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Đình Thái S, sinh ngày 04/02/2011 và cháu Phạm Đình H1, sinh ngày 08/3/2009, cả 02 cháu đều đang ở với anh. Khi ly hôn anh Phan x nuôi cả 02 cháu và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo anh Phan b thì chị H vẫn liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Lê Danh Đ và bà Vũ Thị Q, anh đã nhiều lần hỏi địa chỉ của chị H nhưng chị H không cung cấp.
Do công việc bận, nên anh Phan x xét xử vắng mặt.
Bị đơn chị Lê Thị H gửi đơn trình bày về có nội dung: Chị đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, chị xác định không còn tình cảm với anh P và cũng đồng ý ly hôn. Về con chung, chị đề nghị Tòa án tôn trọng ý kiến của các cháu, chị đồng ý nuôi dưỡng cháu H1, còn cháu S nếu cháu đồng ý thì chị cũng sẽ đón về nuôi. Về tài sản chung chị không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Lê Danh Đ và bà Vũ Thị Q có nội dung: Ông bà là bố mẹ đẻ của chị Lê Thị H, chị H2 hiện đang ở Nga, chị H thường xuyên liên lạc về với gia đình và mọi giấy tờ của Tòa án thì ông bà sẽ nhận thay và thông báo cho chị H biết.
Tòa án tiến hành ghi lời khai của cháu Phạm Đình Thái S và cháu Phạm Đình H1 có nội dung: Hai cháu đều đang ở với anh P, khi bố mẹ cháu ly hôn thì cháu H1 có nguyện vọng ở với mẹ, còn cháu S có nguyện vọng ở với bố.
Tại phiên toà: Nguyên đơn anh P có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử cho anh Phạm Đình P được ly hôn chị Lê Thị H. Về con chung: Giao cháu Phạm Đình Thái S, sinh ngày 04/02/2011 và cháu Phạm Đình H1, sinh ngày 08/3/2009 cho anh P chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ: không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Anh P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, anh Phạm Đình P đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với chị Lê Thị H và có nguyện vọng xin nuôi của 02 con chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình".
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của anh Phạm Đình P thì bị đơn là chị Lê Thị H có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và hiện đang cư trú, làm việc tại Nga. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Anh P có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản cho chị H, tuy nhiên chị H vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Đình P và chị Lê Thị H kết hôn ngày 13/6/2008, tại thời điểm kết hôn anh P và chị H đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh P và chị H là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, theo anh P trình bày do khoảng cách địa lý, bất đồng nhiều việc trong cuộc sống, nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, hai vợ chồng đã ly thân, không còn nói chuyện quan tâm đến nhau nữa; chị H cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh P, chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh P là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho anh Phạm Đình P được ly hôn chị Lê Thị H.
[2.2]. Về con chung: Vợ chồng anh P, chị H có 02 con chung là cháu Phạm Đình Thái S, sinh ngày 04/02/2011 và cháu Phạm Đình H1, sinh ngày 08/3/2009, cả 02 cháu đều đang ở với anh P. Anh P có nguyện vọng nuôi cả 02 con chung; tuy nhiên, cháu S có nguyện vọng ở với bố, cháu H1 có nguyện vọng ở với mẹ, mặt khác chị H cũng xin nuôi cháu H1. Do vậy cần tôn trọng ý kiến của các con chung, cũng như để đảm bảo sự phát triển của các cháu cần giao cháu S cho anh P, cháu H1 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc. Do mỗi người nuôi 01 con chung nên vấn đề cấp dưỡng HĐXX không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Anh P và chị H đều trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Anh Phạm Đình P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Đình P: Anh Phạm Đình P được ly hôn chị Lê Thị H.
- Giao con chung là cháu Phạm Đình Thái S, sinh ngày 04/02/2011 cho anh Phạm Đình P nuôi dưỡng; giao cháu Phạm Đình H1, sinh ngày 08/3/2009 cho chị Lê Thị H nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con chung được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Phạm Đình P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh P đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000047 ngày 06/12/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Vấn đề cấp dưỡng: Không đặt ra giải quyết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh P xin ly hôn chị H
