Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày: 29/5/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Thành Hiếu

Thẩm phán:

Ông Trần Minh Bắc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đỗ Thị Lài

 

Bà Trần Thanh Thuỷ

 

Ông Trần Quốc Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thạch - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 148/2023/HSST ngày 20/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/HSST-QĐ ngày 07/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2024/QĐ-HPT ngày 28/3/2024; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 31/2024/TB-TA ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn C, sinh năm 1969 tại tỉnh Thừa Thiên - Huế; Nơi cư trú: Ấp G, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Nguyễn H, sinh năm 1911 (đã mất); Họ và tên mẹ: Trần Thị C1, sinh năm 1927 (đã mất); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1964; Có 01 người con sinh năm 1994.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt tại phiên tòa)

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn C: Ông Trần Anh D - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).

* Bị hại:

- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1959; địa chỉ: tổ D, thôn H, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

- Ông Lê Minh H1, sinh năm 1964; địa chỉ: 7 N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1.1. Nội dung vụ án và kết quả điều tra:

Đầu năm 2011, Nguyễn Thị Kim A nhận cầm cố 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) đứng tên ông Lê Văn M, bà Lê Thị Đ, ông Võ Văn T2 từ bà Danh Thị T3 để cho bà T3 vay 15 triệu đồng, việc cầm cố và vay mượn không có hợp đồng. Do bà T3 không chuộc lại các sổ đỏ đã cầm cố, nên Kim A nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối làm giả các tài liệu liên quan đến 03 giấy tờ đất, thuê người đóng giả chủ đất, rồi tìm người có nhu cầu mua đất để ký hợp đồng chuyển nhượng đất nhưng thực chất là lừa dối chiếm đoạt tiền của họ.

Khoảng cuối năm 2011, Kim A biết ông Nguyễn Văn T1 và ông Lê Minh H1 có nhu cầu mua đất nên Kim A làm giả nhiều tài liệu gồm: “Giấy chứng minh nhân dân”, “Sơ đồ vị trí”, “Giấy xác nhận độc thân”. Sau đó, Kim A thuê đối tượng đóng giả chủ đất, rồi dẫn đối tượng đóng giả chủ đất cùng các ông T1, H1 ký công chứng Hợp đồng chuyển nhượng đất để lừa dối chiếm đoạt tiền của các ông T1, H1.

Cụ thể:

  • * Lần 1: Đối với sổ đỏ số seri B081422 diện tích diện tích 1.800m² tọa lạc tại thị trấn P, huyện X do UBND huyện X cấp ngày 24/04/1994 đứng tên ông Lê Văn M.

Kim A thuê Nguyễn Văn H2 đóng giả làm chủ đất là ông Lê Văn M, hứa sẽ cho tiền, H2 đồng ý. Kim A thuê đối tượng thanh niên (không rõ lai lịch) làm giả các giấy tờ, tài liệu: “Giấy chứng minh nhân dân” in ảnh Nguyễn Văn H2 nhưng mang tên Lê Văn M; “Sơ đồ vị trí” thửa đất, “Giấy xác nhận độc thân”.

Ngày 07/10/2011 Kim A hướng dẫn H2 ký Hợp đồng chuyển nhượng đất trên với các ông T1, H1. Tại Văn phòng công chứng, ông T1 đưa cho H2 số tiền 200 triệu đồng nhận chuyển nhượng đất mà không biết thực chất đã bị Kim A và H2 lừa dối để chiếm đoạt. Sau khi nhận tiền, H2 giao toàn bộ cho Kim A và được Kim A cho 3 triệu đồng, đã tiêu xài hết.

  • * Lần 2: Đối với sổ đỏ số seri K809315 diện tích 2679m² tọa lạc tại thị trấn P, huyện X do UBND huyện X cấp ngày 24/12/1997 đứng tên bà Lê Thị Đ.

Kim A khai thuê 01 đối tượng nữ (không rõ lai lịch) đóng giả chủ đất là bà Lê Thị Đ, hứa sẽ cho tiền, đối tượng đồng ý. Kim A thuê đối tượng thanh niên (không rõ lai lịch) làm giả các giấy tờ, tài liệu: “Giấy chứng minh nhân dân” in ảnh đối tượng nhưng mang tên Lê Thị Đ; “Sơ đồ vị trí” thửa đất; “Giấy xác nhận độc thân”.

Ngày 15/11/2011 Kim A hướng dẫn đối tượng đóng giả bà Đ ký Hợp đồng chuyển nhượng đất trên với các ông H1, T1. Tại Văn phòng công chứng, ông T1 giao cho Kim A số tiền 220 triệu đồng nhận chuyển nhượng đất mà không biết thực chất đã bị Kim A và đối tượng lừa dối để chiếm đoạt.

  • * Lần 3: Đối với sổ đỏ số seri K957366 diện tích 17.645 m² tọa lạc tại xã P do UBND huyện X cấp ngày 11/10/1997 đứng tên ông Võ Văn T2.

Kim A khai thuê một đối tượng nam (không rõ lai lịch) đóng giả chủ đất là ông Võ Văn T2, hứa sẽ cho tiền, đối tượng đồng ý. Kim A thuê đối tượng thanh niên (không rõ lai lịch) làm giả các giấy tờ, tài liệu: “Giấy chứng minh nhân dân” in ảnh đối tượng nhưng mang tên Võ Văn T2; “Sơ đồ vị trí” thửa đất; “Giấy xác nhận độc thân”.

Ngày 20/9/2011, Kim A dẫn đối tượng đóng giả ông T2 đến Văn phòng C3 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên với các ông H1 – T1. Ngày 24/11/2011, Kim A dẫn đối tượng và các ông H1, T1 đến Văn phòng C3 ký hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/9/2011 để ký lại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mới. Tại Văn phòng công chứng, ông T1 đưa cho Kim A số tiền 730 triệu đồng nhận chuyển nhượng đất mà không biết thực chất bị Kim A và đối tượng lừa dối để chiếm đoạt.

+ Kết luận giám định và kết quả xác minh:

  • - Tại Kết luận giám định số 699/PC09-Đ3 ngày 28/11/2018, Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Dấu vân tay trên tài liệu cần giám định không phải là của ông Võ Văn T2".
  • - Tại Biên bản xác minh hồi 15 giờ ngày 06/11/2018 do Cơ quan điều tra thực hiện tại Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh B Chi nhánh huyện X xác định: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri K957366 chủ đất Võ Văn Thành: Hiện nay, ông Võ Văn T2 vẫn đang quản lý, sử dụng lô đất, không có biến động gì.

Tại Bản án hình sự số 33/2021/HSST ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã xử phạt Nguyễn Thị Kim A 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 và 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự 1999 (tổng hợp hình phạt là 16 năm tù); xử phạt Nguyễn Văn H2 5 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015; các vấn đề khác liên quan đến bồi thường dân sự, xử lý vật chứng và án phí theo quy định cũng đã được giải quyết.

1.2. Hành vi đồng phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Nguyễn C:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với Nguyễn Thị Kim A và Nguyễn Văn H2 về hành vi và tội danh như đã nêu trên. Do Nguyễn Thị Kim A không khai báo đầy đủ đồng phạm trong các lần lừa đảo chiếm đoạt tiền của các ông T1, H1 (Lần 2, L) nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 277/QĐ-PC01 ngày 09/8/2019 để tiếp tục lập hồ sơ điều tra, xử lý. Qua điều tra rà soát, Cơ quan điều tra đã xác định Nguyễn C chính là đối tượng được Kim A thuê đóng giả ông Võ Văn T2 ký công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo sổ đỏ số seri K957366 diện tích 17.645 m² để lừa dối chiếm đoạt tiền các ông Lê Minh H1 và ông Nguyễn Văn T1 (Lần 3) nên ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự số 21/QĐ ngày 27/6/2023 và ra Quyết định khởi tố bị can số 18/QĐ ngày 25/8/2023 đối với C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự để điều tra.

Kết quả điều tra xác định:

Năm 2011, Nguyễn C là công nhân cao su tại xã H, huyện X, tỉnh BR-VT cùng với ông Nguyễn Thanh V chồng bà Nguyễn Thị Ú là chị ruột của Nguyễn Thị Kim A. Từ đó, C và Kim A quen biết nhau.

Để lừa đảo chiếm đoạt tiền của các ông Lê Minh H1 và ông Nguyễn Văn T1; Kim A thuê Chót đóng giả chủ đất là ông Võ Văn T2, hứa sẽ cho tiền, C đồng ý. Kim A thuê đối tượng thanh niên (không rõ lai lịch) làm giả các giấy tờ, tài liệu: “Giấy chứng minh nhân dân” số [...] in ảnh Chót nhưng mang tên Võ Văn T2 do Công an tỉnh B-VT cấp ngày 07/6/2005; “Sơ đồ vị trí” thửa đất số 283, 284, 285, 287, 288 tờ bản đồ số 11 mang tên Võ Văn T2 có chữ ký ông Lê Văn C2 (Giám đốc) và đóng dấu Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện X; “Giấy xác nhận độc thân” ngày 19/9/2011 mang tên Võ Văn T2 có chữ ký ông Lê Hồng S (Phó chủ tịch) và đóng dấu UBND xã P, huyện X.

Ngày 20/9/2011, Kim A dẫn C đến Văn phòng C3 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên với các ông H1, T1 số công chứng 1093, quyển số 01/2011/TP/CC-SCC/HĐ GD. Ngày 24/11/2011, Kim A dẫn Chót đến Văn phòng C3 cùng các ông H1, T1 ký hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1093 ngày 20/9/2011 để ký lại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1391 Quyển số 01/2011/TP/CC-SCC/HĐGD. Qua hai lần ký công chứng, C đều ghi “Tôi đã đọc và đồng ý” rồi ký, ghi họ tên “Võ Văn T2” và điểm chỉ ngón trỏ trái, ngón trỏ phải dưới mục “Bên A” trong các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất làm cho các ông H1, T1 tin tưởng là thật nên đã giao cho Kim A số tiền 730 triệu đồng nhận chuyển nhượng đất mà không biết thực chất đã bị Kim A và C lừa dối để chiếm đoạt. Chót được Kim A cho số tiền 1.500.000 đồng và đã tiêu xài hết.

Tại Kết luận giám định số 104/KL-KTHS-TL,ĐV ngày 03/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B xác định dấu vân tay (trái, phải ) dưới mục “Bên A” và chữ viết, chữ ký mang tên Võ Văn T2 trên các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C3 công chứng số 1093 ngày 20/9/2011 và số 1391 ngày 24/11/2011 so với dấu vân tay ngón trỏ trái, ngón trỏ phải; chữ ký, chữ viết của Nguyễn C do Cơ quan điều tra thu mẫu là của cùng một người; do cùng một người ký, viết ra.

Quá trình điều tra, bị can Nguyễn C đã khai nhận hành vi của bản thân như đã nêu trên, công nhận kết quả điều tra và kết quả giám định; lời khai của C phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị Kim A, lời khai của các bị hại H1, T1 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

+ Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

Ngày 28/8/2023, bị can Nguyễn C tự nguyện giao nộp lại số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ số tiền trên tại tài khoản của Công an tỉnh B-VT mở tại Kho bạc Nhà nước.

1.3. Các vấn đề khác có liên quan:

  • - Đối với trách nhiệm hình sự, dân sự của Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn H2; trách nhiệm của Công chứng viên Nguyễn D1 và Văn phòng C3 liên quan đến việc công chứng các hợp đồng chuyển nhượng đất và các vấn đề liên quan.... Do đã được giải quyết ở các vụ án trước nên không xem xét xử lý ở vụ án này.
  • - Đối với đối tượng nữ được Nguyễn Thị Kim A thuê đóng giả bà Lê Thị Đ ký Hợp đồng chuyển nhượng đất theo sổ đỏ số seri K809315 với các ông H1, T1 được công chứng số 1339 Quyển số 01/2011/TP/CC-SCC/HĐ GD ngày 15/11/2011 giúp sức cho Kim A lừa dối chiếm đoạt số tiền 220 triệu đồng của các ông T1, H1 Công chứng viên Nguyễn D1 như đã nêu trên (Lần 2), Cơ quan điều tra đang truy xét, khi nào đủ cơ sở sẽ xử lý sau theo quy định.

2. Tại Cáo trạng số 128/CT-VKSBRVT-P2 ngày 25/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 128/CT-VKSBRVT-P2 ngày 25/11/2023. Trong bản luận tội vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bồi thường khắc phục một phần hậu quả đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đồng thời bị cáo không có tiền án, tiền sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn C mức án từ 07 (bảy) đến 08 (tám) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2021/HSST ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

* Luật sư Trần Anh D phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo:

Về mặt tội danh: Căn cứ vào các lời khai của bị cáo, các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, luật sư đồng ý với đại diện Viện kiểm sát khi truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn, bị cáo một phần thiếu hiểu biết về pháp luật, không có động cơ mục đích chiếm đoạt tiền của bị hại, bị cáo chỉ đơn giản nghĩ là giúp Nguyễn Thị Kim A và Kim A có cho một ít tiền xăng xe là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.

Bị cáo Nguyễn C: Nhất trí với luật sư, không bào chữa bổ sung.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về làm công dân tốt, có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa của bị cáo, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

  1. Về tố tụng:

    Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

    Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của Nguyễn Thị Kim A, lời khai của các bị hại H1, T1 và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

    Vào khoảng đầu năm 2011, Nguyễn Thị Kim A nhận cầm cố 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bà Danh Thị T3 để cho bà T3 vay tiền. Do bà T3 không chuộc lại các sổ đỏ đã cầm cố, nên Kim A nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối làm giả các tài liệu liên quan đến 03 giấy tờ đất, thuê người đóng giả chủ đất, rồi tìm người có nhu cầu mua đất để ký hợp đồng chuyển nhượng đất nhưng thực chất là lừa dối chiếm đoạt tiền của họ.

    Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri K957366 đứng tên ông Võ Văn T2 thì Kim A thuê đối tượng (không rõ lai lịch) làm giả các giấy tờ, tài liệu: “Giấy chứng minh nhân dân” số [...] in ảnh Nguyễn C nhưng mang tên Võ Văn T2 do Công an tỉnh B-VT cấp ngày 07/6/2005; “Sơ đồ vị trí” thửa đất; “Giấy xác nhận độc thân” rồi thuê Nguyễn Chót đ giả chủ đất là ông Võ Văn T2, hứa sẽ cho tiền, C đồng ý. Trong các ngày 20/9/2011, 24/11/2011, Kim A dẫn C đến Văn phòng C3 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên với các ông H1, T1. Qua hai lần ký công chứng, C đều viết ký, ghi giả họ tên Võ Văn T2 và điểm chỉ vào các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; làm cho các ông H1, T1 tin tưởng là thật nên đã giao số tiền 730 triệu đồng nhận chuyển nhượng đất mà không biết thực chất đã bị Kim A và C lừa dối để chiếm đoạt. Chót được Kim A cho 1.500.000 đồng và đã tiêu xài hết.

    Do đó, Hội đồng xét xử hoàn toàn có căn cứ quy kết bị cáo Nguyễn C đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 128/CT-VKSBRVT-P2 ngày 25 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

    Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn C là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại Nguyễn Văn T1, Lê Minh H1. Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện cùng với Kim A chiếm đoạt tiền của ông T1 và H1 nhằm tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần có mức án phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • [4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
    • [4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục một phần hậu quả, con của bị cáo bị bệnh viêm nhiều dây thần kinh, di chứng viêm da dây thần kinh thể sợi trục, bị cáo đi làm bảo vệ, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  5. Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2021/HSST ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên không xem xét.
  6. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) mà Nguyễn C đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.
  7. Về án phí: Bị cáo Nguyễn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: N (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2021/HSST ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) (Hiện Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang quản lý theo biên lai thu tiền số 0000094 ngày 17/01/2024).
  4. Án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo, bị hại; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn C Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger