|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày: 29 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Trần Trọng Vĩnh
2. Ông Nguyễn Chí Vương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa:
Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 29/5/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST- HS ngày 22/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST- HS ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản đối với bị cáo:
Điểu Minh D, sinh năm 2003 tại tỉnh Bình Phước
Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xtiêng; Tôn giáo: Tin lành; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm thuê.
Nơi cư trú: Tổ D, ấp T, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha: Điểu D1, sinh năm 1964, Mẹ: T, sinh năm 1967; Bị cáo có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, Tiền sự: Không
Ngày 03/01/2024 bị bắt quả tang về hành vi Buôn bán hàng cấm và bị tạm giữ, tạm giam đến ngày 06/02/2024 được thay thế biện phạm tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 02/01/2024, Điểu Minh D được 01 người bạn tên T (không rõ nhân thân lai lịch), quen trên mạng xã hội Facebook nhờ mua 05 hộp pháo hoa với tiền công 500.000 đồng, D đồng ý rồi tìm hiểu trên
mạng, biết được 01 người bán pháo hoa nên đặt 05 hộp pháo hoa với giá 4.500.000 đồng. Sau đó D thông báo với T thì T đồng ý mua. Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02/01/2024, do không có tiền mua pháo nên D nhận của T trước số tiền 4.500.000 đồng để lấy pháo; còn 500.000 đồng tiền công D sẽ nhận khi D đưa pháo cho T. Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 03/01/2024, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93C1-405.38 đến khu vực nghĩa trang thuộc xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước lấy 05 hộp của một người đàn ông không rõ nhân thân mà D đặt mua trên mạng xã hội. Sau khi mua được 05 hộp pháo, D lấy 03 hộp pháo hoa bỏ vào trong cốp xe mô tô, còn 02 hộp pháo còn lại cất giấu trong bao xác rắn màu đen để ở phía trước xe mô tô. Sau đó D hẹn T đến cây xăng “ĐVT” để giao pháo. Trên đường đi, do điện thoại di động của D không có dung lượng Internet để liên lạc với T nên D điều khiển xe đến tiệm ăn sáng gần trường tiểu học T2 để kết nối mạng Wifi. Tại đây, D gặp 01 người bạn tên Lưu Thanh H đang ăn sáng tại quán. Lúc này, do D sợ bị Công an phát hiện nên D vào gửi H bao xác rắn màu đen, chứa 02 hộp pháo trong quán ăn sáng và hẹn H một lát sau sẽ đến lấy để giao cho T. Sau đó D điều khiển xe mô tô đi giao pháo cho T, khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 13, thuộc khu phố G, thị trấn T, huyện H thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ 03 hộp pháo hoa trong cốp xe mô tô của D. Qua làm việc lực lượng Công an tiếp tục thu giữ 02 hộp pháo tại tiệm ăn sáng trường tiểu học T2 mà D đã gửi trước đó.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện H, Điểu Minh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ kết luận giám định số: 20 ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Toàn bộ 05 khối hình hộp gửi giám định đều là pháo hoa nổ khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu, có tổng khối lượng là 8,15 kg.
Về vật chứng thu giữ của vụ án và xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sh 150i, màu đen trắng, biển kiểm soát: 93C1-405.38, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của bà Thị Minh T1. Ngày 03/01/2024 D mượn xe mô tô trên để làm phương tiện để đi lại. Bà T1 hoàn toàn không biết việc D sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ Điều 106, Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho bà T1.
- Đối với số pháo còn lại sau giám định có tổng khối lượng 4,95 kg, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tịch thu và tiêu hủy theo quy định.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, số IMEI: 353095101420563, số IMEI2: 353095101354812 mà D dùng để liên lạc, trao đổi
thông tin với người mua pháo hoa nổ và người bán pháo hoa nổ, đây là những vật chứng của vụ án. Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tịch thu để sung công quỹ Nhà nước theo quy định.
- 01 (một) bao xác rắn màu đen có kích thước 60cm x 106cm; 01 (một) bao ni long, màu trắng trong có kích thước 65cm x 1,30m là những công cụ để chứa đựng, che đậy pháo hoa nổ, đây là những vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tịch thu để tiêu hủy theo quy định.
- Về vấn đề dân sự: Vụ án không phát sinh
Cáo trạng số 32CT-VKS ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố Bị cáo Điểu Minh D về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Điểu Minh D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Đề nghị xử phạt bị cáo Điểu Minh D hình phạt chính là hình phạt tiền với số tiền từ 100.000.000đ đến 120.000.000₫
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý như đề nghị trong cáo trạng.
Vấn đề dân sự: Không phát sinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa Bị cáo Điểu Minh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Điểu Minh D đã mua pháo hoa nổ trên mạng xã hội Facebook về nhằm mục đích bán lại để kiếm tiền lời. Ngày 03/01/2024 khi D đang đi trên đường Q thuộc khu phố G, thị trấn T, huyện H để giao pháo cho người mua thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ 05 hộp pháo hoa nổ. Qua giám định xác định 05 hộp pháo hoa nổ có tổng khối lượng là 8,15kg
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Điểu Minh D phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, Biên bản kiểm tra hiện trường, Biên bản niêm phong đồ vật và vật chứng là 8,15kg pháo hoa dạng nổ. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” nên Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố Bị cáo Điểu Minh D2 tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[4] Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình được pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn có tiền lời qua việc mua bán pháo nổ để có tiền tiêu xài cá nhân nên Bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi buôn bán pháo dạng nổ nêu trên là hàng hóa thuộc danh mục cấm lưu hành trên thị trường Việt Nam do Bị cáo Điểu Minh D thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành.
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức về pháp luật còn hạn chế nên
bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ răng đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sh 150i, màu đen trắng, biển kiểm soát: 93C1-405.38, đây là tài sản hợp pháp của bà Thị Minh T1, bà T1 không biết việc D sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ Điều 106, Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho bà T1 là đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.
- Đối với số pháo còn lại sau giám định có tổng khối lượng 4,95 kg, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên tuyên tịch thu và tiêu hủy theo quy định.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, số IMEI: 353095101420563, số IMEI2: 353095101354812 là điện thoại D dùng để liên lạc, trao đổi thông tin với người mua pháo hoa nổ và người bán pháo hoa nổ. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu để sung công quỹ Nhà nước theo quy định.
- 01 bao xác rắn màu đen có kích thước 60cm x 106cm; 01 bao ni long, màu trắng trong có kích thước 65cm x 1,30m là những công cụ để chứa đựng không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu để tiêu hủy theo quy định.
[7] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm các Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật;
[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Điểu Minh D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo và đề nghị múc hia2nh phạt đối với Bị cáo như trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Điểu Minh D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
-
Về Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Điểu Minh D hình phạt chính là hình phạt tiền với số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).
-
Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
Số pháo còn lại sau giám định có tổng khối lượng 4,95 kg (03 hộp); 01 bao xác rắn màu đen có kích thước 60cm x 106cm; 01 bao ni long, màu trắng trong có kích thước 65cm x 1,30m là những vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, số IMEI: 353095101420563, số IMEI2: 353095101354812.
(Vật chứng được mô tả và được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo Quyết định chuyển vật chứng số 29/QĐ-VKS ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước).
Các vật chứng các Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.
-
Về án phí:
Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Điểu Minh D phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ sơ thẩm;
-
Quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Học |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
