|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày: 28 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Nghĩa Toàn;
Bà Lê Thị Thanh Nhung;
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phi Thăng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1987 tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Văn S, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay, tại xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Người bị hại: Bà Lê Thị T; sinh năm 1950; địa chỉ: Xóm V, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Anh Ngô Hữu T1; sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm V, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Quốc G; sinh năm 1978; địa chỉ: Xóm V, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 20 phút ngày 14/01/2024, Hà Văn L (có giấy phép lái xe hợp lệ do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 16/6/2020) điều khiển xe mô tô BKS 29K1-124.75 nhãn hiệu: YAMAHA; số loại: JUPITER, màu sơn: Trắng, đen đi từ nhà theo đường Q lên Công ty C1 ở xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An làm việc. Khi đi đến Km 3+350m, đường Q (cầu C), thuộc địa phận xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy trước liền kề nên Hà Văn L điều khiển xe mô tô đâm vào giỏ nhựa chở hàng bên trái, buộc sau xe đạp do bà Lê Thị T (sinh năm 1950, trú tại xóm V, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An) điều khiển, đi cùng chiều ở phía trước bên phải đường Quốc lộ 46B, làm bà Lê Thị T, xe đạp cùng xe mô tô và Hà Văn L ngã xuống đường. Bà Lê Thị T bị ngất nằm ngửa trên đường nên L đã gọi điện cho xe cấp cứu 115 lên để đưa đi bệnh viện để cấp cứu và điều trị, trong lúc đang chờ xe cấp cứu đến, khoảng 5 đến 10 phút thì có chị Ngô Thị H là con gái bà T ra hiện trường, thấy bà T tỉnh lại nên chị H đã nói L đưa bà T về nhà về nhà ở xóm V, xã H thành phố V, tỉnh Nghệ An. Khi về đến cổng nhà, L dừng xe mô tô lại có anh Ngô Quốc C là con trai bà của T ra đỡ xuống xe mô tô thì bà T bị ngã từ trên xe mô tô xuống đường, khi đó L xuống xe mô tô bế bà T vào nhà đặt lên gường nằm thì gia đình bà T phát hiện phía bên trái đầu của bà T bị sưng nên đã đưa đi Bệnh viện H1 để điều trị. Đến 12 giờ ngày 14/01/2024, bà Lê Thị T bị tử vong. Sau đó, Hà Văn L lên cơ quan Công an huyện H đầu thú
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành xét nghiệm ma túy, đo nồng độ cồn đối với Hà Văn L và xác định Hà Văn L âm tính với ma túy và không có nồng độ cồn trong cơ thể.
Bản kết luận giám định số số 40/KL-KTHS(DVCH), ngày 28/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận như sau:
- Ngay tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển số 29K1-124.75 và xe đạp thô sơ di chuyển cùng chiều với nhau trên đường Quốc lộ 46B theo hướng từ xã H, thành phố V đi xã H, huyện H.
- Xe mô tô biển số 29K1-124.75 có va chạm với giỏ nhựa buộc phía sau bên trái gác ba ga của xe đạp thô sơ.
+ Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 29K1-124.75 với giỏ nhựa buộc phía sau gác ba ga của xe đạp thô sơ:
- Trên hiện trường: Ở phần đường bên phải đường Quốc lộ 46B theo hướng từ xã H, thành phố V đi xã H, huyện H.
+ Trên xe mô tô biển số: 29K1-124.75: Ở bánh trước, dấu vết va chạm ở vị trí này có chiều hướng từ mặt lăn vào tâm trục và ngược chiều quay tiến của bánh xe. Trên giỏ nhựa buộc phía sau bên trái gác ba ga của xe đạp thô sơ: Ở mặt sau giỏ nhựa, dấu vết va chạm ở vị trí này có chiều hướng từ sau ra trước.
- Tư thế khi va chạm: Khi mặt lăn các bánh lốp của xe mô tô biển số 29K1-124.75 và xe đạp thô sơ đang tiếp xúc với mặt đường (hai phương tiện chưa ngã đổ trên mặt đường).
- Không phát hiện thấy dấu vết va chạm với cơ thể chị Lê Thị T trên xe mô tô biển số 29K1-124.75.
- Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 29K1-124.75 và xe đạp thô sơ ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn. (BL số: 57-58,HSVA).
* Tại Bản kết luận giám định tử thi số 22/KLGĐTT- KTHS, ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận như sau nguyên nhân chết: Vỡ xương hộp sọ, tụ máu dưới màng cứng hai bán cầu đại não do chấn thương.
Công văn trả lời biện luận dấu vết và nguyên nhân chết của bà Lê Thị T, số 09/BL-KTHS (DD2-PY) ngày 29/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, như sau:
- Dấu vết 1.1.4 và 1.1.5 (phần khám ngoài) trong Kết luận giám định tử thi số 22/KLGĐTT- KTHS, đề ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, là do sự tác động tương hỗ giữa vật tày và cơ thể tạo ra.
- Dấu vết 1.1.4 và 1.1.5 (phần khám ngoài) trong Kết luận giám định tử thi số 22/KLGĐTT- KTHS, đề ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, là vị trí tác động dẫn đến nguyên nhân chết của Lê Thị T.
- Dấu vết 1.1.5 (phần khám ngoài) trong Kết luận giám định tử thi số 22/KLGĐTT- KTHS, đề ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, có đặc điểm thường gặp trong các vụ tai nạn giao thông
- Trường hợp nạn nhân Lê Thị T, bị ngã từ trên yên xe mô tô xuống đường khi anh Hà Văn L, chở về đến cổng nhà, có người đỡ xuống xe như kết quả thực nghiệm điều tra thì không thể gây ra được dấu vết 1.1.4 và 1.1.5 (phần khám ngoài) trong Kết luận giám định tử thi số 22/KLGĐTT- KTHS, đề ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N.
-Vật chứng còn lại của vụ án: 01(một) giấy phép lái xe mô tô, ô tô số: [...]; hạng A1 E mang tên Hà Văn L (sinh ngày 18/06/1987, nơi cư trú: xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An), do Sở GTVT thành phố H cấp ngày 16/06/2020, có giá trị đến ngày 16/6/2025 được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Bị cáo Hà Văn L đã hỗ trợ bồi thường thiệt hại cho gia đình bà Lê Thị T số tiền 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng), người đại diện cho bà T không yêu cầu L bồi thường gì thêm
Bản Cáo trạng số 46 /CT-VKS-HN ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Hà Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo hoàn toàn khai nhận hành vi của bị cáo giống như diễn biễn sự việc mà bản cáo trạng đã truy tố. Người đại diện hợp pháp của người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện VKSND huyện Hưng Nguyên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Văn L đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng; về dân sự: Do đại diện hợp pháp gia đình bị hại không yêu cầu nên không xem xét. Về vật chứng: Đề nghị trả lại 01(Một) giấy phép lái xe cho bị cáo. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ nên có đủ cơ sở để kết đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 04 giờ 20 phút ngày 14/01/2024, tại Km 3+350m, đường Q (cầu C), thuộc địa phận xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, Hà Văn L điều khiển xe mô tô BKS 29K1-124.75 theo hướng từ thành phố V đi xã H, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy trước liền kề nên Hà Văn L điều khiển xe mô tô đâm vào giỏ nhựa chở hàng bên trái, buộc sau xe đạp do bà Lê Thị T (sinh năm 1950, trú tại xóm V, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An) điều khiển, đi cùng chiều ở phía trước bên phải đường Quốc lộ 46B, làm bà Lê Thị T và xe đạp cùng xe mô tô và Hà Văn L ngã xuống đường. Hậu quả: Bà Lê Thị T bị tử vong, hai xe liên quan bị hư hỏng nhẹ.
Hành vi của Hà Văn L đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ. Tại khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền kề phía trước của mình; ở những nơi có biển báo, cự ly tối thiểu giữa hai xe, phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo” và khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ. Tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp: Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường”.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết 01 người nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự, an toàn và ý thức tham gia giao thông đường bộ. Vì vậy, cần xử lý nghiêm bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi gây tai nạn, bị cáo Hà Văn L đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú về hành vi phạm tội của mình và dốc sức cùng với gia đình người bị hại đưa bị hại đi cấp cứu tại Bệnh viện H1 để điều trị. Sau khi bị hại chết, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại. Người đại diện theo ủy quyền của bị hại không yêu cầu đền bù gì thêm, có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo có bố là Hà Văn S được tặng Huy chương Chiến sỹ vẻ vang, có ông ngoại là Nguyễn Hữu D được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Đây các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy: Lỗi gây ra tai nạn cũng một phần do lỗi của bị hại, bị hại chở hàng cồng kềnh, chiếm phần đường là chưa đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 31 Luật Giao thông. Ngoài ra bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly bị cáo mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp và đủ nghiêm nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận bồi thường, không có yêu cầu gì thêm nên Tòa không xét.
[5]. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ:
+ 01(một) xe mô tô biển số 29K1-124.75 (nhãn hiệu YAMAHA; số loại JUPITER; loại xe: mô tô hai bánh; màu sơn: trắng, đen; số máy: 5B95120241; số khung: RLCJ5B 950BY120236) và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký phương tiện xe mô tô biển số: 29K1-124.75, số: 29 003689, mang tên: Nguyễn Hùng D1 được trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Hùng D1.
+ 01(một) xe đạp thô sơ; loại Mi Ni; loại xe hai bánh; màu sơn: trắng và 02 (hai) giỏ nhựa, màu đỏ cột phía sau xe đạp được trả lại cho người đại diện của bà Lê Thị T là anh Ngô Hữu T1 (sinh năm: 1986; cư trú tại: xóm V, xã H thành phố V, tỉnh Nghệ An).
+ 01(một) Giấy phép lái xe mô tô, ô tô số: [...]; hạng A1 E mang tên Hà Văn L (sinh ngày 18/06/1987, nơi cư trú: xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An), do Sở GTVT thành phố H cấp ngày 16/06/2020, có giá trị đến ngày 16/6/2025 được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với 01(một) xe mô tô biển số 29K1-124.75 cùng các giấy tờ kèm theo và 01(một) xe đạp thô sơ Cơ quan CSĐT Công an huyện H trả lại cho chủ sở hữu theo quy định pháp luật nên Hội đồng không xem xét.
Đối với giấy phép lái xe của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.
[6]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Hà Văn L 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hà Văn L cho Ủy ban nhân dân xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại 01(một) giấy phép lái xe mô tô, ô tô số: [...]; hạng A1 E mang tên Hà Văn L cho bị cáo Hà Văn L (Giấy phép kèm theo hồ sơ vụ án).
3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Hương |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà văn lâm
