|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN Bản án số:45 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/8/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Huệ và ông Nguyễn Bá Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thùy Trang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 153/2023/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 về yêu cầu “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023 và quyết định hoãn phiên toà số 45/QĐHPT- HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn D - sinh năm 1983
- Bị đơn: Chị Lê Thị T - sinh năm 1988
Địa chỉ: Làng Đ - xã Nghĩa Y - huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An (Có mặt)
Địa chỉ: Làng Đ - xã Nghĩa Y - huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phạm Văn D trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị T kết hôn với nhau vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Y - huyện N- tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không hiểu và không tôn trọng nhau, đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không quan tâm đến nhau nữa nên anh D yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị T.
Về con chung: Anh và chị Lê Thị T có ba con chung là Phạm Quỳnh T, sinh ngày 22 tháng 3 năm 2012; Phạm Quỳnh N, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2016 và Phạm Quỳnh H, sinh ngày 29 tháng 01 năm 2019. Ly hôn anh D có nguyện vọng được nuôi con chung Phạm Quỳnh T và Phạm Quỳnh N, còn con chung Phạm Quỳnh H hiện nay đang ở với chị T nên anh để cho chị T nuôi dưỡng. Anh D không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là chị Lê Thị T:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho chị T biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho chị T nhưng chị T vẫn không có mặt để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến xác minh và tiến hành niêm yết các tài liệu, chứng cứ tại địa phương nơi chị T cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
- - Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật
- - Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn D là cho ly hôn với chị Lê Thị T; Việc nuôi con: đề nghị hội đồng xét xử giao con chung là Phạm Quỳnh T, sinh ngày 22 tháng 3 năm 2012 và Phạm Quỳnh N, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2016 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung Phạm Quỳnh H, sinh ngày 29 tháng 01 năm 2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành; Về án phí: Nguyên đơn anh Phạm Văn D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Phạm Văn D có nơi cư trú tại làng Đ - xã Nghĩa Y - huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với chị Lê Thị T là bị đơn có nơi cư trú tại làng Đ - xã Nghĩa Y - huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Bị đơn chị Lê Thị T có hộ khẩu thường trú tại làng Đ - xã Nghĩa Y - huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho chị T biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho ông Lê Văn T là bố đẻ của chị Lê Thị T, sau khi nhận giấy báo của Tòa án, ông T cam kết giao lại cho chị T. Quá trình xác minh thì được biết sau khi nhận giấy báo của Toà án, chị T đã biết thời gian, địa điểm đến Toà án để giải quyết vụ án nhưng chị T không đến và không có ý kiến gì. Toà án đã tiến hành xác minh và niêm yết các tài liệu, giấy triệu tập và các chứng cứ tại địa phương nơi chị T cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2] Về nội dung
- 2.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn D và chị Lê Thị T kết hôn với nhau vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Y - huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không hiểu và không tôn trọng nhau, đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Xét thấy tình cảm giữa anh D và chị T không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phạm Văn D.
- 2.2. Về con chung: Anh Phạm Văn D và chị Lê Thị T có ba con chung là Phạm Quỳnh T, sinh ngày 22 tháng 3 năm 2012; Phạm Quỳnh N, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2016 và Phạm Quỳnh H, sinh ngày 29 tháng 01 năm 2019. Quá trình anh D và chị T sống ly thân thì con chung Phạm Quỳnh T và Phạm Quỳnh N ở với anh D, con chung Phạm Quỳnh H ở với chị T nên anh D có nguyện vọng được tiếp tục nuôi hai con chung Phạm Quỳnh T và Phạm Quỳnh H, các con đều có nguyện vọng được ở với anh D, đối với con chung Phạm Quỳnh H ở với chị T từ ngày anh chị sống ly thân đến nay. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung, thấy rằng cần giao hai con chung Phạm Quỳnh T và Phạm Quỳnh N cho anh D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; Giao con chung Phạm Quỳnh H cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung đã trưởng thành là phù hợp.
- 2.3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh D và chị T do không có yêu cầu.
- 2.4. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Phạm Văn D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- [3]. Về án phí: Nguyên đơn anh Phạm Văn D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; điểm b khoản 2 điều 227, điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58; điều 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn D.
- 1.Về hôn nhân: Cho anh Phạm Văn D ly hôn với chị Lê Thị T.
- 2. Việc nuôi con: Giao hai con chung là Phạm Quỳnh T sinh ngày 22 tháng 3 năm 2012 và Phạm Quỳnh N, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2016 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung Phạm Quỳnh H, sinh ngày 29 tháng 01 năm 2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các con chung đã trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh D và chị T do không có yêu cầu.
Anh D và chị T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.
- 3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án anh Phạm Văn D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0004030 ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.
- 4. Nguyên đơn anh Phạm Văn D có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn chị Lê Thị T có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 45/2023/HNGĐ-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 45/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn D- Lê Thị Thành
