|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/DS-PT
Ngày 28-6-2024
“v/v tranh chấp quyền sử dụng đất rừng
và cây trồng trên đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Duy Ước.
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Hồng Ánh.
Ông Bùi Đức Thanh.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phan Hải, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: Ông Lê Khắc Sơn, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất rừng và cây trồng trên đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 71/2024/QĐPT-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Ngô Bá H, sinh năm 1971.
Nơi cư trú: khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.
Có mặt.
-
Bị đơn: Bà Phùn Sám M, sinh năm 1972.
Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: bà Nguyễn Thị H1, Luật sư thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q.
Đều có mặt
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH MTV L.
Địa chỉ: khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền:
- +) Ông Lê Thế D, chức vụ: Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV L. Có mặt.
- +) Ông Vũ Anh T, chức vụ: Trưởng phòng Kỹ thuật Bảo vệ Công ty TNHH MTV L. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn – bà Phùn Sám M1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, phần trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:
Ngày 26/5/2015 ông Ngô Bá H và Công ty TNHH MTV L (viết tắt là Công ty) ký hợp đồng mua bán rừng số 20/MBR với nội dung như sau: Công ty bán rừng và giao khoán đất rừng cho ông H với diện tích 3,6ha; địa điểm tại lô b1 khoảnh 5 có diện tích 1,5ha và lô b4 khoảnh 8 có diện tích 2,1ha đều thuộc tiểu khu B tại địa chỉ thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; loại cây trồng thông mã vĩ, tuổi cây trồng từ năm 2002. Sau khi ký kết hợp đồng, ông H đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng với Công ty, cụ thể ông H đã nộp 15.000.000đ cho Công ty, có phiếu thu ngày 18/8/2015. Nguồn gốc đất rừng và cây trên đất: năm 2008, Công ty có giao diện tích đất trên cho ông Lê Xuân C là công nhân của Công ty trồng rừng gỗ trụ mỏ theo phương thức nhận vốn trồng rừng trả bằng sản phẩm gỗ trụ mỏ khi đến kỳ hạn. Tuy nhiên, đến năm 2015 do trồng tỷ lệ cây sống thấp nên Công ty đã giao khoán đất và rừng này cho ông H để quản lý, sản xuất và trồng rừng đến năm 2031.
Tại thời điểm ký kết hợp đồng, trên thửa đất có trồng thông mã vĩ, một số cây sa mộc và rải rác cây keo, sau đó ông H đã chăm sóc bảo vệ quản lý diện tích được giao và có trồng xen thêm cây keo trong diện tích này. Đến năm 2021, sau khi xem xét thấy các cây thông, keo đã đủ thời gian khai thác ông H đã thuê công nhân tiến hành khai thác cây thông và dọn rừng trồng lại. Tuy nhiên, đã phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất và số keo trồng trên đất giữa ông H và bà Phùn Sám M1 tại lô b4, khoảnh 8 tiểu khu B có diện tích 2,1ha. Cụ thể: sau khi khai thác xong cây thông và chở giống keo lên chuẩn bị trồng lại thì bà Phùn Sám M1 và 02 người con đe dọa ngăn cản. Hai bên đã hoà giải tại UBND xã V nhưng không có kết quả. Sau đó, bà M1 đã tiếp tục trồng cây keo trên diện tích 0,47ha rừng đang chuẩn bị trồng lại. Ngày 13/8/2023, phát hiện bà M1 cho người vào chặt hạ khoảng 100 cây keo trên diện tích 1000m², ông H đến can ngăn, bà M1 ngừng khai thác và đã báo cáo lên UBND xã V và Công ty. Vì vậy, ông Ngô Bá H khởi kiện bà P Sám Múi yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:
Thứ nhất, yêu cầu bà M1 di chuyển toàn bộ số cây đã trồng và trả lại toàn bộ diện tích đất mà Công ty đã giao khoán cho ông Ngô Bá H;
Thứ hai, đối với số cây keo đã trưởng thành ở trên đất được Công ty giao trong đó bao gồm cả số keo trưởng thành đã bị chặt hạ, ông H được khai thác.
Bị đơn bà Phùn Sám M1 trình bày:
Bà Phùn Sám M và bố chồng là ông Tằng Quay P1 (đã chết) bắt đầu trồng cây sa mộc trên diện tích đất đang có tranh chấp nói trên thuộc thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh từ năm 1993. Đến năm 2011 thì trồng khoảng 4.500 cây keo, đến nay đã đến tuổi được khai thác. Năm 2021, bà M tiếp tục trồng thêm một số cây keo nhỏ, hiện nay còn khoảng 2.000 cây trên diện tích khoảng 0,5 ha.
Trước khi xảy ra tranh chấp với ông Ngô Bá H, năm 2011 giữa bà M và ông Tằng Phúc S đã có xảy ra tranh chấp đối với thửa đất nói trên và đã được UBND xã V tiến hành hòa giải, giải quyết tại biên bản làm việc ngày 19/5/2011 với nội dung giao quyền sử dụng thửa đất và số cây keo trồng trên đất cho bà M.
Ngày 14/8/2023, sau khi xem xét thấy số cây keo đã đến tuổi thu hoạch, gia đình bà M đã lên khai thác, cắt cây nhưng ông Ngô Bá H đến chặn đường, nói số cây keo này là do ông H trồng và không cho bà M khai thác.
Về nguồn gốc số cây keo trưởng thành đã đủ tuổi thu hoạch hiện đang trồng trên diện tích đất 1,36 ha thuộc lô b4, khoảnh 8 tiểu khu B (diện tích đất đang tranh chấp), bà M có quan điểm số cây trên là do bà M trồng từ trước, không phải cây của Công ty. Nay ông Ngô Bá H có đơn khởi kiện yêu cầu trả lại đất và số cây trồng trên đất thì bà M không đồng ý. Bà M đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu giải quyết vụ án theo pháp luật.
Công ty TNHH MTV L – người đại diện theo uỷ quyền có quan điểm:
Công ty TNHH MTV L là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước với ngành nghề kinh doanh chính là trồng rừng, bảo vệ rừng và kinh doanh chế biến các sản phẩm từ rừng. Công ty có tiền thân là Lâm trường B được thành lập từ năm 1964 sau đó chuyển thành Trạm Lâm nghiệp B. Đến năm 1993 được tái thành lập theo Quyết định số 1855/QĐ-UB ngày 15/9/1993 của UBND tỉnh Q. Ngày 02/6/2010, theo Quyết định số 1630/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Q, Công ty L chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV L. Công ty được giao quản lý 5.181,04ha (trong đó có 3.643,95ha rừng phòng hộ và 1.536,86ha rừng sản xuất).
Về nội dung tranh chấp giữa ông Ngô Bá H và bà P Sám Múi đối với thửa đất có tranh chấp thuộc tiểu khu B, khoảnh 8, thửa số 36 theo tờ bản đồ lâm nghiệp số 03 (bản đồ hiện trạng phương án sử dụng đất) từ năm 2000 được UBND tỉnh giao đất theo quyết định số 74/QĐ-UB ngày 12/01/2000 và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/01/2000. Năm 2016, sau khi rà soát, đối chiếu lại, Công ty tiếp tục được UBND tỉnh Q giao quyền quản lý, sử dụng đất theo Quyết định số 2233/QĐ-UBND ngày 18/7/2016, trong đó có diện tích đất đang có tranh chấp.
Theo tờ bản đồ giao đất năm 1999 tại vị trí tranh chấp Lâm trường B đã trồng hồi, quế, sa mộc của dự án 327, dự án định canh định cư và không giao đất cho ai. Năm 2002, Lâm trường B trồng cây thông mã vĩ bằng nguồn vốn vay trồng rừng gỗ trụ mỏ. Đến năm 2008, Công ty L có ký hợp đồng vay vốn trồng gỗ trụ mỏ số 02/2008/HĐ-VV ngày 01/01/2008 với ông Lê Xuân C trồng loài cây keo tai tượng nhưng do không thành rừng nên không khai thác (hiện nay ông C đã chuyển về Hải Dương sinh sống, không còn sinh sống tại địa phương).
Năm 2015, Công ty có hợp đồng mua bán rừng và giao khoán đất rừng với ông Ngô Bá H; thời hạn giao khoán đến năm 2031, tại thời điểm giao khoán không có ai sử dụng. Kể từ khi giao khoán, Công ty cũng thường xuyên kiểm tra, quản lý sử dụng đất, năm 2021 Công ty mới biết có sự tranh chấp giữa ông H và bà M khi ông H khai thác thông và trồng lại rừng thì gia đình bà M lên ngăn cản. Ngày 13/8/2023, ông H lên Công ty B1 bà M cho người khai thác keo, Công ty đã cùng ông H và UBND xã V xuống yêu cầu bà M dừng lại không được khai thác và chở đi. Ngày 18/10/2023, UBND xã V đã tổ chức buổi xác minh và hòa giải nhưng không thành do bà M nhất quyết không trả lại đất.
Về nguồn gốc số cây keo trưởng thành đã đủ tuổi khai thác hiện trồng trên diện tích 1,36 ha là cây của Công ty, do ông Lê Xuân C trồng từ năm 2008 theo hợp đồng vay vốn trồng gỗ trụ mỏ số 02/2008/HĐ-VV ngày 01/01/2008.
Công ty yêu cầu bà M không được ngăn cản ông H thi công, sản xuất, trồng rừng tại thửa đất trên. Đối với số cây trồng tranh chấp giữa ông Ngô Bá H và bà Phùn Sám M1, Công ty đề nghị bà M1 và ông H tự thỏa thuận giải quyết với nhau.
Các tài liệu khác do Tòa án thu thập:
Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ; Sơ đồ khảo sát hiện trạng sử dụng đất ngày 23/01/2024, xác định vị trí, diện tích thửa đất tranh chấp và biên bản định giá tài sản; phần đất đang tranh chấp là đất rừng thuộc lô b4, khoảnh 8, tiểu khu B, có diện tích 2,1ha được giới hạn từ điểm 1 đến điểm 18 trên sơ đồ thẩm định. Trong đó có 1880 cây keo trồng năm 2021 trên diện tích 0,47ha, tổng trị giá là 23,688,000 đồng; 1632 cây keo trưởng thành đến tuổi khai thác trên diện tích 1,36 ha và 102 cây keo trưởng thành đã chặt hạ trên diện tích 0,085 ha (theo sơ đồ thẩm định đi kèm).
Tờ bản đồ địa chính số 5 được đo vẽ năm 2008 được phê duyệt năm 2013 (bản sao) và bản sao các tài liệu liên quan đến hòa giải do UBND xã V cung cấp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày quan điểm:
Công ty đã giao khoán và bán rừng cho ông H từ năm 2015 theo hợp đồng mua bán số 20/MBR thì ông H có quyền sản xuất, trồng rừng và khai thác trên diện tích đất nêu trên là 2,1ha. Đối với 1880 cây keo non đề nghị ông H nhận lại và thanh toán tiền cho bà M1 theo biên bản định giá tài sản. Đối với 1632 cây keo trưởng thành do bà M1 trồng thì để bà M1 được khai thác và thanh toán tiền khoán cho Công ty.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh phát biểu quan điểm:
Về tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Các đương sự cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về nội dung: Căn cứ các Điều 12; 13; 166; 167; 170 và 203 Luật Đất đai; các Điều 166; 169; 170; 173; 267; 268 và 269 Bộ luật Dân sự; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Phùn Sám M1 phải trả lại cho ông Ngô Bá H diện tích đất rừng tại vị trí khoảnh 8, diện tích 2,1ha tại thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh được giới hạn từ điểm 1 đến điểm 18 theo sơ đồ thẩm định đất rừng ngày 23/01/2024 để ông Ngô Bá H sử dụng theo hợp đồng mua bán rừng số 20/MBR ngày 26/5/2015 giữa ông Ngô Bá H với Công ty TNHH MTV L. Ông Ngô Bá H có quyền sở hữu và khai thác 1632 cây keo trên diện tích 1,36 ha (ký hiệu trên sơ đồ là: 1-KEO) và 102 cây keo đã chặt hạ trên diện tích 0,085 ha (ký hiệu trên sơ đồ là: 3-KEO); giao cho ông Ngô Bá H có quyền sở hữu 1880 cây keo trên diện tích 0,47 ha (ký hiệu trên sơ đồ là: 2-KEO) theo sơ đồ thẩm định đất rừng ngày 23/01/2024; ông Ngô Bá H phải trả cho bà P Sám Múi trị giá của 1880 cây keo với tổng số tiền là 23.688.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Bá H. Bà Phùn Sám M1 phải trả lại cho ông Ngô Bá H diện tích đất rừng tại vị trí tiểu khu B, thuộc khoảnh 8, diện tích 2,1ha tại thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh được giới hạn từ điểm 1 đến điểm 18 theo sơ đồ thẩm định đất rừng ngày 23/01/2024 để ông Ngô Bá H sử dụng theo hợp đồng mua bán rừng số 20/MBR ngày 26/5/2015 giữa ông Ngô Bá H với Công ty TNHH MTV L. Ông Ngô Bá H có quyền sở hữu 1632 cây keo trên diện tích 1,36 ha (ký hiệu trên sơ đồ thẩm định đất rừng là: 1-KEO) và 102 cây keo đã chặt hạ trên diện tích 0,085 ha (ký hiệu trên sơ đồ thẩm định đất rừng là: 3-KEO) theo sơ đồ thẩm định đất rừng ngày 23/01/2024. Giao cho ông Ngô Bá H có quyền sở hữu 1880 cây keo (trồng năm 2021) trên diện tích 0,47 ha theo sơ đồ thẩm định đất rừng ngày 23/01/2024 (ký hiệu trên sơ đồ thẩm định đất rừng là: 2-KEO). Ông H phải trả cho bà M1 số tiền 23.688.000đ là giá trị của 1880 cây keo (trồng năm 2021).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản) và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/5/2024, bị đơn bà Phùn Sám M1 có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do bị đơn đã trồng cây keo tại lô đất hiện đang tranh chấp từ năm 2011 và năm 2021; vì vậy, bà M1 đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng ông Ngô Bá H phải trả lại cho gia đình bà quyền sử dụng 1,8ha đất tranh chấp và số keo bà đã trồng là 6.600 cây.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút một phần kháng cáo về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và 1.880 cây keo non được trồng diện tích đất rừng 0,47ha (ký hiệu trên sơ đồ là: 2-KEO), có giá trị 23.688.000đ; bà M1 chỉ kháng cáo phần tài sản trên đất đối với 1.632 cây keo trưởng thành trên diện tích đất rừng 1,36ha (ký hiệu trên sơ đồ là: 1-KEO) và 102 cây keo trưởng thành đã chặt hạ trên diện tích đất rừng 0,085ha (ký hiệu trên sơ đồ là: 3-KEO). Tại phiên toà, đối với phần kháng cáo trên, bà M1 và ông H thống nhất thoả thuận ông H được quyền sở hữu toàn bộ 1.632 cây keo trưởng thành trên diện tích đất rừng 1,36ha và 102 cây keo trưởng thành đã chặt hạ trên diện tích đất rừng 0,085ha và có nghĩa vụ thanh toán cho bà M1 số tiền 69.333.000₫ (sáu mươi chín triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn đồng). Các bên cùng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận đối với nội dung đã thoả thuận trên.
Các bên không có ý kiến tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ việc; Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo một phần của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị đơn – bà Phùn Sám M1 thực hiện trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn – bà Phùn Sám M1, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[2.1] Về quyền sử dụng đất đang tranh chấp.
Ngày 15/9/1993, UBND tỉnh ban hành Quyết định 1855/QĐ/UB thành lập doanh nghiệp N và được giao vốn rừng 33.900ha trong đó diện tích rừng tự nhiên 5953ha, diện tích rừng trồng 8113ha, đất trồng đồi trọc 19.833ha. Năm 1999, Lâm trường Bình Liêu đã lập bản đồ giao rừng và được UBND tỉnh phê duyệt và ban hành Quyết định 74/QĐ-UB ngày 12/01/2000 giao cho Lâm trường B 2.995ha rừng và đất lâm nghiệp phòng hộ xung yếu, 2852,6ha rừng và đất lâm nghiệp để sản xuất phát triển lâm nghiệp tại các tiểu khu B, 272, 281, 282, 283, 285, 287, 288, 289, 298, 296, 297, và 298. Tổng 5847,6ha và được UBND tỉnh Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 491QSDĐ ngày 25/01/2000 diện tích 5847,6ha gồm16 tiểu khu và thuộc 4 xã (theo bản đồ được UBND tỉnh phê duyệt ngày 12/01/2000). Năm 2005, Lâm trường B đã lập bản đồ thiết kế trồng rừng tại khoảnh 8, 14 tiểu khu B được sở nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt.
Ngày 02/6/2010, UBND tỉnh Q ban hành Quyết định 1630/QĐ – UBND chuyển đổi Công ty L thành Công ty TNHH L được kế thừa các quyền và lợi ích hợp pháp, các nghĩa vụ, xử lý các vấn đề tồn tại và mới phát sinh của Doanh nghiệp được chuyển đổi.
Năm 2008, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Q tiến hành đo vẽ, lập bản đồ địa chính và được phê duyệt ngày 17/01/2013 thì diện tích đất của Công ty thuộc tờ bản đồ số 5 (trong đó có tiểu khu B gồm 14 khoảnh trong đó có khoảnh 8). Tại bản đồ địa chính thể hiện khoảnh 8 tiểu khu B có thửa 188 có diện tích đất RST - Th 3397.
Đến năm 2016, UBND tỉnh Q ban hành Quyết định số 2233/QĐ-UBND ngày 18/7/2016 về việc thu hồi, điều chỉnh ranh giới, diện tích đất giao, thuê cho Công ty L để quản lý, trồng và phát triển rừng tại huyện B và Quyết định số 3952/QĐ-UBND ngày 22/11/2016 về việc phê duyệt phương án sử dụng đất của Công ty L thể hiện Công ty được giao, thuê diện tích 5.180,81ha; trong đó có 3.643.95ha đất giao không thu tiền sử dụng đất (đất rừng phòng hộ) và 1.536,86ha đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm (đất rừng sản xuất) tại huyện B. Diện tích điều chỉnh theo bản đồ hiện trạng xin giao, thuê đất tỷ lệ 1/10.000. được sở T kiểm tra, xác nhận (theo bản đồ diện tích đất khoảnh 8 tiểu khu B vẫn thuộc đất của Công ty).
Căn cứ các chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở xác định diện tích đất thuộc khoảnh 8 tiểu khu 297 là đất của Công ty TNHH L được xác lập quyền sử dụng đất thông qua quyết định của nhà nhà nước giao đất, cho thuê đất. Công ty TNHH L là người có quyền sử dụng đất và sở hữu rừng nên có quyền của người sử dụng đất (cho thuê, giao khoán, bán tài sản trên đất...).
Công ty TNHH L đã ký hợp đồng mua bán rừng trồng trồng với ông Ngô Bá H theo hợp đồng ngày 26/5/2015 có nội dung bán rừng và giao khoán rừng cho ông H tại tiểu khu B khoảnh 5 lô b1= 1,5ha và khoảnh 8 lô b4 = 2,1ha trên đất có thông Mã vĩ, rừng trồng từ năm 2002 (có biên bản bàn giao thực địa thể hiện giao cho ông Ngô Bá Hải vị t lô b4 khoảnh 8 diện tichs 2.10 – 2001).
Căn cứ hợp đồng trên ông H là người được sở hữu rừng và được quyền sử dụng đất giao khoán theo các điều khoản đã được thoả thuận giữa Công ty TNHH L với ông ngô Bá H2. Đây là căn cứ xác lập quyền sở hữu hợp pháp đối với rừng và quyền sử dụng đất rừng cho ông H2 theo đúng quy định nên được pháp luật bảo luật.
Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và sơ đồ thẩm định đi kèm thể hiện phần đất đang tranh chấp giữa ông H2 và bà M1 có diện tích 2,1ha chính là lô b4, khoảnh 8, tiểu khu B đều phù hợp với các chứng cứ như đã nhận định ở trên.
Về phía bị đơn cho rằng đã sử dụng đất trồng cây từ năm 1993, 2011 trồng keo trên đất nhưng chỉ đưa ra 01 biên bản tranh chấp năm 2011, ngoài ra không có chứng cứ nào khác. Theo kết quả xác minh tại UBND xã xác định diện tích đất tranh chấp năm 2011 không thuộc vị trí đất hai bên đang tranh chấp và theo lời khai của ông P2 thì diện tích đất tranh chấp năm 2008 ông P2 được giao khoán rừng ông đã trồng keo trên đất.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định quyền sử dụng đất rừng diện tích 2,1 ha thuộc khoảnh 8 tiểu khu B là thuộc quyền sử dụng của ông Ngô Bá H.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn – bà Phùn Sám M1 có quan điểm rút yêu cầu kháng cáo đối với phần tranh chấp về quyền sử dụng đất và 1.880 cây keo non trên diện tích 0,47ha, xét việc rút đơn của bà M1 là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phần kháng cáo của bị đơn đối với nội dung trên.
[2.2] Về cây trồng trên đất.
Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự thống nhất thoả thuận ông H được sở hữu toàn bộ số cây trên diện tích đất tranh chấp và có nghĩa vụ thanh toán cho bà M1 số tiền 69.333.000₫ (sáu mươi chín triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn đồng) là giá trị số keo trên diện tích đất rừng 1,36ha (ký hiệu trên sơ đồ là: 1-KEO) và 102 cây keo đã chặt hạ trên diện tích đất rừng 0,085ha (ký hiệu trên sơ đồ là: 3-KEO).
Xét thấy, tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết một phần vụ án liên quan đến tranh chấp quyền sở hữu 1.632 cây keo trưởng thành trên diện tích đất rừng 1,36ha và 102 cây keo trưởng thành đã bị chặt hạ trên diện tích đất rừng 0,085ha, thoả thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 công nhận sự thoả thuận của các đương sự về nội dung này.
Ngoài ra, ông H còn phải thanh toán cho bà M1 số tiền 23.688.000đ (hai mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi tám nghìn đồng) là giá trị số keo non (1.880 cây) trên diện tích 0,47ha (ký hiệu trên sơ đồ là: 2-KEO) mà bà M1 đã rút kháng cáo đối với phần này. Tổng cộng, ông H phải thanh toán cho bà M1 93.021.000đ (chín mươi ba triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn đồng).
Từ những nhận định trên, HĐXX có đủ căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của ông Ngô Bá H, ông H được thuê khoán và sở hữu tài sản trên đất và có trách nhiệm thanh toán số tiền 93.021.000đ (chín mươi ba triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn đồng) cho bà Phùn Sám M1.
[3] Ngoài ra, khi xem xét bản án và hồ sơ, Hội đồng xét xử thấy rằng Toà án cấp sơ thẩm còn một số những vi phạm như sau:
Thứ nhất, sai sót trong xác định tên của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Cụ thể, tên của Công ty Đ là Công ty TNHH MTV L, tuy nhiên, quá trình tố tụng sơ thẩm cũng như bản án sơ thẩm đều ghi tên Công ty TNHH MTV L là chưa đầy đủnên cần rút kinh nghiệm.
Thứ hai, bản án sơ thẩm buộc ông H có nghĩa vụ thanh toán cho bà M1 số tiền 23.688.000đ nhưng lại không tuyên buộc ông H phải chịu án phí đối với số tiền trên là vi phạm quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xét thấy tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự thoả thuận lại với nhau về nghĩa vụ thanh toán nên án phí đối với số tiền cần phải tính lại, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về nội dung trên.
Thứ ba, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện di chuyển cây keo non mới trồng nhưng lại chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện là chưa đúng quy định của pháp luật, tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự thoả thuận được về việc giải quyết nội dung này nên Toà án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[4] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Ngô Bá H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 8.000.000đ (tám triệu đồng) nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp, còn bị đơn bà Phùn Sám M1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Ngoài ra, ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 93.021.000đ (chín mươi ba triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn đồng) ông có nghĩa vụ thanh toán cho bà M1.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần, bên cạnh đó, Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm do các đương sự thoả thuận được về việc giải quyết một phần vụ án, vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 148 BLTTDS và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Phùn Sám M1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Phùn Sám M1.
Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, Điều 157, Điều 165, Điều 284, khoản 3 Điều 289, Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 357, Điều 468, Điều 579, Điều 580 Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 167, Điều 170 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
-
Đình chỉ xét xử phần kháng cáo của bị đơn – bà P Sám Múi đối với tranh chấp diện tích 2,1ha đất rừng và 1.880 cây keo non (trồng năm 2021) trên diện tích 0,47ha.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Bá H về tranh chấp đất rừng và quyền sở hữu tài sản trên đất.
Bà Phùn Sám M1 phải trả lại cho ông Ngô Bá H diện tích đất rừng tại vị trí tiểu khu B, thuộc khoảnh 8, lô b4, diện tích 2,1ha tại thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh được giới hạn từ điểm 1 đến điểm 18 theo sơ đồ thẩm định đất rừng ngày 23/01/2024 để ông Ngô Bá H sử dụng theo Hợp đồng mua bán rừng số 20/MBR ngày 26/5/2015 giữa ông Ngô Bá H với Công ty TNHH MTV L (theo Sơ đồ thẩm định đất rừng ngày 23/01/2024 kèm theo bản án).
Ông Ngô Bá H có quyền sở hữu 1.880 cây keo trên diện tích đất rừng 0,47ha (ký hiệu trên sơ đồ là: 2-KEO), 1.632 cây keo trên diện tích đất rừng 1,36ha (ký hiệu trên sơ đồ thẩm định đất rừng là: 1-KEO) và 102 cây keo đã chặt hạ trên diện tích đất rừng 0,085ha (ký hiệu trên sơ đồ thẩm định đất rừng là: 3-KEO). Ông Ngô Bá H có nghĩa vụ thanh toán cho bà M1 số tiền 93.021.000đ (chín mươi ba triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn đồng) là giá trị của các cây keo trên.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về chi phí tố tụng:
Ông Ngô Bá H tự nguyện chịu 8.000.000đ (tám triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (ông Ngô Bá H đã nộp đủ).
-
Về án phí:
Về án phí sơ thẩm:
- +) Bị đơn bà Phùn Sám M1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- +) Nguyên đơn ông Ngô Bá H phải chịu 4.651.050đ (bốn triệu, sáu trăm năm mươi mốt nghìn, không trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ đi số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005312 ngày 21/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh; ông H còn phải nộp 4.351.050đ (bốn triệu, ba trăm năm mươi mốt nghìn, không trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: trả lại cho bà M1 chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005330 ngày 09/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Tạ Duy Ước |
Bản án số 45/2024/DS-PT ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất rừng và cây trồng trên đất
- Số bản án: 45/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất rừng và cây trồng trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng và cây trồng trên đất
