Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 28-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Cúc.

2. Bà Hoàng Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trịnh Hữu T, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 08/6/1998, tại thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Hữu H (đã chết); Con bà: Trịnh Thị H1, sinh năm 1975; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 106/2019/HS-PT ngày 09/5/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt Trịnh Hữu T 06 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2022.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Vũ Duy K, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 22/12/1998, tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Xuân K1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị D, sinh năm 1969; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2020/HS-ST ngày 20/7/2020, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt Vũ Duy K 04 năm 10 tháng tù về 02 tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2023.

Nhân thân:

  • - Ngày 18/11/2015 bị Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau gây rối trật tự công cộng.
  • - Ngày 4/7/2019 bị Công an huyện V, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.
  • - Ngày 28/8/2019 bị Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.

Các lần xử phạt vi phạm hành chính nêu trên đều đã được xóa.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/9/2023 đến ngày 27/11/2023 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn là bảo lĩnh, đến ngày 19/4/2024 thì bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Dương Văn Đ, sinh năm: 1998, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Anh Thiều Sĩ S, sinh năm: 1980, nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1985, nơi cư trú: Khu A, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

- Những người làm chứng:

  1. Anh Bùi Văn H2, sinh năm: 1987, nơi cư trú: Khu C, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Anh Lê Công L1, sinh năm: 1990, nơi cư trú: Khu D, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Quang N, sinh năm: 1997, nơi cư trú: Khu E, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  4. Anh Lưu Đình L2, sinh năm: 1995, nơi cư trú: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  5. Anh Trịnh Ngọc S1, sinh năm: 1995, nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  6. Anh Trịnh Văn C, sinh năm: 1998, nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  7. Anh Trịnh Văn T1, sinh năm: 1994, nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  8. Anh Hoàng Văn T2, sinh năm: 1997, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  9. Anh Trịnh Viết C1, sinh năm: 1982, nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  10. Anh Trịnh Huy D1, sinh năm: 1991, nơi cư trú: Phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  11. Anh Bùi Văn Đ1, sinh năm: 1993, nơi cư trú: Thôn E, xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  12. Anh Nguyễn Hữu Đ2, sinh năm: 1975, nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  13. Chị Phạm Thị Ngọc A, sinh năm: 2005, nơi cư trú: Khu B, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/4/2023, anh Dương Văn Đ (Sinh năm 1998 ở thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa); anh Thiều Sĩ S (Sinh năm 1980 ở thôn K, xã Đ, huyện Y, Thanh Hóa); anh Trịnh Ngọc S1 (Sinh năm 1995 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, Thanh Hóa) đến nhà hàng L3 ở khu phố T, thị trấn Q, huyện Y để uống bia. Lúc này, tại bàn số 2 trong nhà hàng L3 gồm có: Trịnh Hữu T, Vũ Duy K, Bùi Văn H2 (Sinh năm 1987 ở khu C, thị trấn Q, huyện Y), Lê Công L1 (Sinh năm 1990 ở khu D, thị trấn Q, huyện Y), Lưu Đình L2 (Sinh năm 1995 ở C, xã Y, huyện Y), Trịnh Văn T1 (Sinh năm 1994 ở thôn V, xã T, huyện T) và một số người khác đang ngồi uống bia. Khi vào quán, nhóm của anh Đ đi vào bàn số 8 ngồi. Khi đi qua bàn số 2 của T, T cho rằng anh Đ nhìn đểu mình, nên khi anh Đ vừa ngồi vào ghế thì T cầm một cốc thủy tinh uống bia, loại cốc tròn không có quai đi đến vị trí anh Đ ngồi rồi cầm cốc thủy tinh đập một cái vào vùng đầu anh Đ. Anh Đ giơ tay trái lên đỡ làm văng cốc trên tay T, thì bị T đẩy ngã ra ghế. Anh Đ ôm đầu nằm úp xuống ghế thì bị T ngồi đè lên lưng, mạn sườn của Đ. T tiếp tục lấy một cốc thủy tinh uống bia ở bàn đập 2-3 cái vào đầu anh Đ. Khi cốc thủy tinh bị vỡ, T tiếp tục dùng tay đấm vào người anh Đ 2-3 cái nữa thì được mọi người can ngăn và đẩy ra ngoài.

Vũ Duy K thấy T đánh anh Đ, liền chạy sang trèo lên ghế sô pha, rồi dùng chân phải đá vào người Đ, sau đó đạp thêm một cái nữa thì được mọi người can ngăn đẩy ra.

Anh Đ được anh Lê Công L1 đưa ra sảnh quán L4. Thấy vậy, K chạy lại tiếp tục dùng hai tay đấm 03 cái vào bụng anh Đ. Sau đó, K được mọi người can ngăn và đẩy ra khu vực bán bia ngoài trời của nhà hàng.

Tại khu vực bán bia ngoài trời của nhà hàng L3, anh Thiều Sĩ S đứng và có lời qua tiếng lại với anh Bùi Văn H2 về việc nhóm người bạn của anh H2 ở bàn số 2 đánh anh Đ. Anh H2 chỉ tay và nói với S việc này anh H2 không biết. Thấy vậy, K chạy lại dùng tay phải đấm một cái vào mặt anh S, làm anh S ngã xuống nền bê tông, rồi dùng chân phải đá vào chân anh S. Thấy K đánh anh S, T đã dùng tay đánh nhiều cái vào đầu anh S, anh S dùng tay đấm lại Tuyên 01 cái. K tiếp tục xông lại dùng tay đấm nhiều cái vào đầu anh S. Những người có mặt ở đó lao vào can ngăn T và K, đồng thời đẩy anh S ra chỗ khác. Khi đó, T đi về phía tường rào nhặt một viên đá vôi ném về phía anh S nhưng không trúng. Sau đó, do được mọi người can ngăn và dọa báo công an nên các đối tượng giải tán và rời khỏi hiện trường.

Hậu quả, anh Dương Văn Đ bị các thương tích sau: 01 vết thương vùng đầu bên trái, đã được khâu, kích thước 5cm; 01 vết thương vùng chẩm đầu thái dương, đã được khâu kích thước 2,5cm; 01 vết thương vùng gáy cổ bên trái bị bầm sưng đỏ, kích thước 2cm x 2cm; 01 vết thương trầy xước da tại mu bàn tay bên trái kích thước 0,5cm x 0,2cm; 01 vết thương bầm tím tại đốt ngón tay thứ nhất của ngón áp út bàn tay trái; 01 vết thương bầm đỏ tại đốt ngón tay thứ nhất của ngón tay út bàn tay phải; 01 vết thương sưng nề bầm đỏ tại ngón áp út bàn tay phải; 01 vết thương sưng nề bầm đỏ tại mu bàn tay trái kích thước 4cm x 2cm.

Anh Thiều Sĩ S bị các thương tích sau: 01 vết thương sưng tấy, tím đỏ tại phía sau đầu bên phải, kích thước 3,5cm x 3,5cm; 01 vết thương trầy xước da, tím đỏ tại phía sau đầu bên phải, kích thước 2,5 x 2cm.

Các đối tượng đánh nhau trong nhà hàng, làm vỡ 10 chiếc cốc thủy tinh nhãn hiệu HONGLI của nhà hàng.

Trong lúc xảy ra sự việc, thấy các đối tượng đánh nhau hung hãn khiến những người có mặt tại nhà hàng L5, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của nhà hàng L3 và gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của khu phố T, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

Sau sự việc xảy ra, do bị thương tích nên anh Dương Văn Đ và anh Thiều Sĩ S đã đi điều trị thương tích tại bệnh viện và có đơn đề nghị đi giám định thương tích và khởi tố vụ án hình sự. Ngày 06/02/2024, anh Dương Văn Đ đã có đơn rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích đối với Trịnh Hữu T và Vũ Duy K.

Tại Bản kết luận giám định số 767/KLTTCT-PYTH ngày 29/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Thiều Sĩ S tại thời điểm giám định là 0%.

Tại Bản kết luận giám định số 770/KLTTCT-PYTH ngày 29/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Dương Văn Đ tại thời điểm giám định là 03%.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐGTS ngày 31/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y kết luận: 10 chiếc cốc nhãn hiệu HONGLI đã qua sử dụng trị giá 160.000đ.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã trích xuất, thu giữ 07 tệp video nén trong 01 đĩa DVD-R, được camera quan sát của nhà hàng L3 ghi lại toàn bộ quá trình sự việc. Tại Bản kết luận giám định số 3006/KL-KTHS ngày 21/8/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 07 tệp video được nén trong 01 đĩa DVD-R gửi giám định.

Quá trình điều tra các bị cáo Trịnh Hữu T và Vũ Duy K đã thành khẩn khai nhận hành vi dùng hung khí (là cốc thủy tinh), tay chân đánh anh Dương Văn Đ và anh Thiều Sĩ S tại nhà hàng L3, nơi đang tập trung đông người gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của nhà hàng, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho những người có mặt tại thời điểm đó, gây mất trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị trên địa bàn.

Về vật chứng của vụ án:

Các vật chứng được thu giữ gồm:

  • 01 đầu thu camera nhãn hiệu Dahua, màu đen đã qua sử dụng;
  • 09 mảnh vỡ thủy tinh (dạng vỏ cốc uống bia) màu trắng trong suốt, kích thước không đồng dạng.

Đối với 01 đầu thu camera nhãn hiệu Dahua, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị L ở khu A, thị trấn Q, huyện Y, Thanh Hóa. Vật chứng còn lại đang được bảo quản kho vật chứng, chờ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Trịnh Hữu T và Vũ Duy K đã bồi thường cho anh Dương Văn Đ số tiền 15.000.000đ là chi phí điều trị thương tích, anh Đ đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh Thiều Sĩ S không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại. Chị Nguyễn Thị L - chủ nhà hàng L3 không yêu cầu các bị cáo bồi thường đối với số cốc bị vỡ trong quá trình xảy ra vụ việc.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSYĐ ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố Trịnh Hữu T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, truy tố Vũ Duy K về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo Trịnh Hữu T và Vũ Duy K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo Trịnh Hữu T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, bị cáo Vũ Duy K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Trịnh Hữu T từ 24 đến 26 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Vũ Duy K từ 04 đến 06 tháng tù, được trừ 02 tháng 17 ngày tạm giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 09 mảnh vỡ thủy tinh (dạng vỏ cốc uống bia) màu trắng trong suốt, kích thước không đồng dạng.

Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo Trịnh Hữu T và Vũ Duy K hoàn toàn thừa nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/4/2023, tại nhà hàng L3 ở khu phố T, thị trấn Q, huyện Y, do cho rằng anh Dương Văn Đ nhìn đểu mình nên Trịnh Hữu T đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là cốc thủy tinh dùng để uống bia và dùng tay, chân đánh vào đầu, vào người anh Đ; Vũ Duy K thấy T đánh anh Đ cũng chạy lại dùng chân, tay đạp, đấm nhiều cái vào người anh Đ, gây thương tích cho anh Đ là 3%. Sau đó được mọi người can ngăn đẩy các đối tượng ra khu vực bán bia ngoài trời của nhà hàng. Tại đây, K dùng tay đấm vào mặt, đầu và dùng chân đạp vào chân anh Thiều Sĩ S; Trịnh Hữu T dùng tay đánh vào đầu anh S. Sau đó được mọi người can ngăn thì K và T không đánh nữa và đi về.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, dữ liệu trích xuất camera, vật chứng thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. HĐXX xét thấy có đủ căn cứ chứng minh các bị cáo đã có hành vi dùng cốc thủy tinh và tay, chân đánh anh Dương Văn Đ và anh Thiều Sĩ S tại nhà hàng L3. Hành vi của các bị cáo xảy ra tại thời điểm nhà hàng đang có đông người, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho mọi người, làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của quán, gây mất trật tự công cộng, mất trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trên địa bàn. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo Trịnh Hữu T đã dùng hung khí nguy hiểm để đánh anh Đ nên phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Duy K chỉ dùng tay, chân đánh anh Đ và anh S nên phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quan hệ pháp luật xâm phạm, tính chất của đồng phạm và vai trò của các bị cáo.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự công cộng, mất trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng xấu tình hình an ninh trên địa bàn, gây hoang mang, lo lắng và bức xúc trong quần chúng nhân dân và xâm hại đến sức khỏe của người khác, là những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án hình sự có đồng phạm. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách bột phát, không có sự bàn bạc, phân công nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó: T là người đánh anh Đ trước và dùng hung khí đánh anh Đ nên có vai tró thứ nhất. K có vai trò thứ hai.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Sau khi phạm tội các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Đ và đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo K có ông nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, HĐXX xét thấy: Các bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn mới đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

Quá trình điều tra, bị cáo K bị tạm giam 02 tháng 17 ngày cần được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt.

[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 09 mảnh vỡ thủy tinh (dạng vỏ cốc uống bia) màu trắng trong suốt, kích thước không đồng dạng, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Trịnh Hữu T và Vũ Duy K đã bồi thường cho anh Dương Văn Đ số tiền 15.000.000₫ là chi phí điều trị thương tích, anh Đ đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh Thiều Sĩ S không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại. Chị Nguyễn Thị L chủ nhà hàng L3 không yêu cầu các bị cáo bồi thường đối với số cốc bị vỡ trong quá trình xảy ra vụ việc. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về những vấn đề khác có liên quan:

Đối với hành vi của các bị cáo đánh gây thương tích cho anh Dương Văn Đ, anh Đ đã có đơn rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích, nên không khởi tố các bị cáo về tội cố ý gây thương tích là đúng quy định của pháp luật. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Y để xử phạt vi phạm hành chính đối với các bị cáo.

Trong vụ án này, khi bị Trịnh Hữu T đánh, anh Thiều Sĩ S dùng tay đấm lại Tuyên 01 cái, mục đích là để phòng vệ. Hành vi đó là bột phát, tính chất mức độ không đáng kể, nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến C huyện Y để xử phạt hành chính đối với anh S theo quy định.

Quá trình điều tra, người làm chứng là anh Trịnh Văn T1 khai báo thấy anh Lưu Đình L2 tát anh S 01 cái và trèo lên ghế sô pha đánh anh Đ 2-3 cái ở trong nhà hàng L3. Tuy nhiên, anh L2 không thừa nhận điều này mà chỉ khai đến can ngăn T đánh anh Đ. Mặt khác anh Thiều Sĩ S và anh Dương Văn Đ khai chỉ có T và K tham gia đánh anh Đ và anh S, ngoài ra không còn ai khác. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với anh Lưu Đình L2.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trịnh Hữu T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Vũ Duy K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trịnh Hữu T 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Duy K 04 (Bốn) tháng tù, được trừ thời gian tạm giam là 02 tháng 17 ngày (từ ngày 12/9/2023 đến ngày 27/11/2023), còn phải chấp hành 01 (Một) tháng 13 (Mười ba) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 09 mảnh vỡ thủy tinh (dạng vỏ cốc uống bia) màu trắng trong suốt, kích thước không đồng dạng, được đựng trong 01 hộp bìa cát tông, bên ngoài hộp có dòng chữ Lotus Glass được dán kín bằng băng dính và giấy niêm phong cùng các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trọng H3, Trịnh Huy D1, Nguyễn Thị L và các hình dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y.

Vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK 48 ngày 26/4/2024.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trịnh Hữu T và Vũ Duy K, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - Công an huyện Yên Định;
  • - Chi cục THADS Yên Định;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử Trịnh Hữu T và đồng phạm phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger