TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HS - ST Ngày: 28 - 5 - 2024 | - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Văn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiểu
Bà Đặng Thị Hoà
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo – Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hạnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2024/TLST – HS, ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST – HS, ngày 08/5/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 24/2024/HSST-QĐ ngày 22/5/2024 đối với,
Các bị cáo:
- Hà Văn T - sinh ngày 25/10/1982, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Thiện C và bà Phạm Thị D; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ tư; Có vợ là Nguyễn Thị Thúy Đ và 03 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: 02, Bản án 61/2018/HSST, ngày 28/9/2018 của TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, Bản án số 72/2020/HSST, ngày 09/12/2020 của TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” tổng hợp hình phạt với bản án 61/2018/ HSST buộc chấp hành hình phạt chung là 03 năm 01 tháng tù; Tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 166/2005/HSST ngày 30/12/2005 của TAND tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.(Có mặt tại phiên tòa)
- Phạm Đức D1 - sinh ngày 19/8/1978, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn N, xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Đ1 (đã chết) và bà Đặng Thị N; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con lớn; có vợ là Nguyễn Thị N1 và 04 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: từ tháng 3/1999 đến tháng 02/2001 tham gia nghĩa vụ quân sự. Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.(Có mặt tại phiên tòa)
- Trần Văn Đ2 – sinh ngày 06/12/1983, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công T1 (được tặng thưởng Huân chương giải phóng hạng 3) và bà Đoàn Thị T2 (đã chết); Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ ba; Có vợ là Hồ Thị G và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: từ tháng 02/2005 đến tháng 02/2007 tham gia nghĩa vụ Quân sự. Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.(Có mặt tại phiên tòa)
- Đoàn Xuân H - sinh ngày 01/01/1962, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn N2 và bà Hà Thị S (đều đã chết); gia đình có 09 anh em, bị cáo là thứ năm; có vợ là Đỗ Thị L và 01 con sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định số 114 ngày 21/4/2008 Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình phạt tiền, Bản án 72/2020/HSST ngày 09/12/ 2020 của TAND huyện Tiền Hải xử phạt 04 tháng tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo là người khuyết tật đặc biệt nặng. Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.(Có mặt tại phiên tòa)
- Đoàn Văn T3 - sinh ngày 05/8/1973, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn N2 và bà Hà Thị S (đều đã chết); gia đình có 09 anh em, bị cáo là thứ chín; có vợ là Đỗ Thị K và 03 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: từ tháng 3/1992 đến tháng 9/1994 tham gia nghĩa vụ Quân sự; bị cáo là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị Đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 80-QĐ/UBKTHU ngày 04/4/2024 của Ủy ban Kiểm tra huyện ủy T10. Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/ 2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.(Có mặt tại phiên tòa)
- Nguyễn Quang H2 - sinh ngày 15/9/1992, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị N3; gia đình có 02 anh em, bị cáo là lớn; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: từ tháng 9/2010 đến tháng 01/2012 tham gia nghĩa vụ quân sự. Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.(Có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Xuân H: Bà Nguyễn Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh T.(Có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Đỗ Thị R – sinh năm 1955(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 10/01/2024 bị cáo Nguyễn Quang H2 gọi điện thoại rủ bị cáo Trần Văn Đ2 chơi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức chơi đánh chắn, Đ2 đồng ý. Lúc này Đ2 đang ngồi ăn uống cùng bị cáo Đoàn Xuân H, bị cáo Đoàn Văn T3 nên Đ2 rủ H2 về nhà H đánh bạc, H2 đồng ý và bảo Đ2 rủ thêm người. Sau đó H2 gọi điện thoại cho bị cáo Phạm Đức D1 rủ đến nhà H đánh bạc còn Đ2 quay ra không thấy Tiện đâu nên mượn điện thoại của H gọi cho T3 đến nhà H đánh bạc, T3 đồng ý. Khi H đi về nhà thì lần lượt có T3 và D1 đến, H không đồng ý cho mọi người đánh bạc trong nhà mình nên T3 và D1 đi ra ngoài sân. Lúc này cả hai thấy nhà thờ họ Đoàn (do bà Đỗ Thị R trông coi, quản lý) không khoá cửa nên đã vào trong nhà thờ ngồi uống nước. D1 bảo đánh chắn nhưng không có bài thì H lấy bộ bài 100 cây, đĩa sứ và trải chiếu xuống nền nhà rồi đặt bộ bài và đĩa sứ xuống chiếu cũng lúc này D1 nhờ H đi mua hộ 2 bao thuốc thăng long hết 20.000đ. Khi bị cáo Hà Văn T đi qua thấy có người trong nhà thờ họ Đoàn nên đi vào sân, lúc này H2 đến nơi và hỏi T vay tiền để đánh bạc nhưng T không đồng ý cho vay và nói “thôi để anh chơi”. Khi T, H2 vào trong nhà thờ thì mọi người bảo đợi Đ2 đến rồi chơi. Một lúc sau, Đ2 đến thì cùng với T3, D1 và T ngồi quây tròn dưới chiếu đánh bạc còn H2, H ngồi xem. Quy cách chơi: Bộ bài 100 cây gồm N4 (chi chi), N5, T4, T5, N6, L1, T6, B, C1 trong đó có 4 cây nhất văn (chi chi); còn lại các quân bài từ nhị đến cửu đều có 12 cây (4 cây vạn + 4 cây văn + 4 cây sách). Bài có thể chơi được phải có tối thiểu là 2 người, tối đa là 4 người. Khi chơi, bài được chia làm 5 phần mỗi phần 19 cây phần còn lại 5 cây được để vào đĩa sứ sau đó bốc một phần 19 cây vào chỗ 5 cây này để làm lọc và sẽ tiến hành bốc một cây bất kỳ trong bài lọc để lấy cái, cây này được đếm từ người bốc theo thứ tứ nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu. Nếu người nào được cây này sẽ là nhà cái được đánh trước phần còn lại 23 cây là bài lọc để bốc. Chắn là 2 cây giống nhau như 2 cây nhất văn, 2 cây nhị vạn, 2 cây nhị văn, 2 cây nhị sách, .... Cạ là 2 cây khác nhau cùng một hàng như một cây nhị vạn + một cây nhị sách hoặc một cây nhị vạn + một cây nhị văn hoặc một cây nhị văn + một cây nhị sách, .... Bài ù là bài phải có ít nhất 6 chắn và 4 cạ. Người ù ván này thì được bốc lọc chọn cái ván sau, nếu ván hoà (không ai ù) thì thực hiện bốc lọc chọn cái lại. Về cước sắc và tính điểm thì quy ước xuông 3, dịch 1 có nghĩa là ù xuông được 30.000đ và dịch một với cước sắc thì được 10.000đ, trong đó ù: Xuông là ù không có cước sắc; Bạch thủ là ù khi trên bài có 5 chắn, 4 cạ và một cây lẻ chờ ù mà bốc lọc lên chính cây đó (không ở cửa trì); T7 là ván trước ù mà ván sau tiếp tục ù; T8 là ù tại cửa mình bốc bài; Bạch thủ chi là trên bài có 5 chắn, 4 cạ và lẻ cây chi chi (nhất văn) khi bốc lọc lên chính cây chi chi; Trì bạch thủ là trên bài có 5 chắn, 4 cạ và lẻ một cây bất kỳ (không phải chi chi) mà bốc bài lên quân lẻ đúng cửa trì; Kính tứ chi là trên bài có 4 quân nhất văn và toàn bộ cây đen; Thập thành là bài có 10 chắn; T9 đỏ là khi trên bài có 8 cây đỏ; Bạch định là ù khi trên bài toàn cây đen; Tôm là bài ù có tam vạn, tam sách, thất văn; Lèo là bài ù có cửu vạn, bát sách, chi chi; ... Trong đó: Xuông thì người thắng được của mỗi người thua 30.000đ; Bạch thủ = Tôm = T7 = Trì = Chíu ù thì người thắng được của mỗi người thua 40.000đ; Lèo thì người thắng được của mỗi người thua 50.000đ; Bạch thủ chi = Trì bạch thủ = Kính tứ chi = Bạch định = T9 đỏ = Thập thành thì người thắng được của mỗi người thua 70.000đ. Các đối tượng chơi đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an huyện T, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại nơi đánh bạc: 01 chiếu cói, 01 bộ bài đánh chắn 100 cây, 01 đĩa sứ, 05 điện thoại di động và 13.510.000đ trong đó (thu trên chiếu bạc số tiền dùng đánh bạc là 11.010.000đ và thu trên người Đoàn Văn T3 2.500.000đ không dùng vào việc đánh bạc).
Quá trình điều tra xác định: Bị cáo D1 mang theo số tiền 4.900.000đ sử dụng hết vào đánh bạc, quá trình chơi có thắng có thua và khi bị bắt bị cáo vứt hết số tiền xuống chiếu bạc. Bị cáo Trần Văn Đ2 mang theo 3.000.000đ sử dụng hết vào việc đánh bạc, quá trình chơi có thắng, có thua khi bị bắt vứt hết tiền xuống chiếu bạc. Bị cáo T mang theo 1.330.000đ sử dụng hết vào việc đánh bạc, quá trình chơi đang thắng, khi bị bắt vứt hết tiền xuống chiếu bạc. Đoàn Văn T3 mang theo 3.100.000đ, sử dụng 600.000đ vào việc đánh bạc số tiền 2.500.000₫ để trong ví không sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt vứt hết tiền xuống chiếu bạc. Bị cáo H2 và bị cáo H mặc dù không trực tiếp tham gia chơi đánh bạc, tuy nhiên: H2 là người khởi sướng, rủ rê, lôi kéo việc đánh bạc, đi vay tiền đánh bạc không được vẫn đến nơi đánh bạc để hỏi vay tiền chơi nhưng vẫn không vay được cũng như ngồi cổ vũ cho các bị cáo khác đánh bạc. H là người biết các bị cáo muốn đánh bạc nhưng không khuyên can còn chuẩn bị công cụ cho các bị cáo đánh bạc. Vì vậy H, H2 đồng phạm với các bị cáo về tội đánh bạc.
Bản cáo trạng số 38/CT - VKSTH ngày 01/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố: Bị cáo Hà Văn T về tội “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Các bị cáo Phạm Đức D1, Trần Văn Đ2, Nguyễn Quang H2, Đoàn Xuân H và Đoàn Văn T3 về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Sau khi xem xét, đánh giá vị trí, vai trò, tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn T, Phạm Đức D1, Trần Văn Đ2, Nguyễn Quang H2, Đoàn Xuân H và Đoàn Văn T3 phạm tội "Đánh bạc".
Áp dụng:
- Điểm d khoản 2 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hà Văn T, xử phạt: Hà Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024.
- Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Đức D1, Trần Văn Đ2, xử phạt:
- + Phạm Đức D1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Trần Văn Đ2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 36; Điều 50; điểm s, p khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đoàn Xuân H, xử phạt: Đoàn Xuân H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện nhận được quyết định thi hành án. Khấu trừ 6 ngày bị tạm giữ của bị cáo H là: 6 x 3 = 18 ngày cải tạo không giam giữ.
- Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Quang H2, Đoàn Văn T3, xử phạt:
- + Nguyễn Quang H2 từ 20.000.000₫ – 30.000.000₫
- + Đoàn Văn T3 từ 20.000.000₫ – 30.000.000đ.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo lao động tự do không có thu nhập ổn định. Bị cáo H là người cao tuổi, khuyết tật đặc biệt nặng.
- Ngoài ra còn đề nghị về: xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo đối với các bị cáo, người liên quan.
* Người bào chữa của bị cáo H đề nghị HĐXX xem xét, cân nhắc cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ, miễn hình phạt bổ sung, án phí và khấu trừ thu nhập khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ vì bị cáo không tham gia đánh bạc, chỉ là người giúp sức, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và là người khuyết tật đặc biệt nặng.
* Các bị cáo không có tranh luận gì và nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và hưởng hình phạt nhẹ nhất, cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Các bị cáo, người liên quan không có khiếu nại, kiến nghị gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra, cáo trạng truy tố. Các bị cáo khai: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 10/01/2024 tại N7 thuộc thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình. Công an huyện T phát hiện bắt quả tang các bị cáo Hà Văn T, Phạm Đức D1, Trần Văn Đ2, Đoàn Văn T3 đã có hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh chắn. Thu giữ 01 chiếu cói, 01 đĩa sứ, 01 bộ bài chắn 100 cây, 05 điện thoại di động và số tiền 13.510.000đ trong đó xác định số tiền các bị cáo đánh bạc là 11.010.000đ. Các bị cáo Nguyễn Quang H2, Đoàn Xuân H không tham gia đánh bạc nhưng H2 là khởi sướng, rủ rê, lôi kéo và có ý định, mong muốn đánh bạc cùng các bị cáo; H là người giúp sức khi chuẩn bị dụng cụ cho các bị đánh bạc. Bị cáo Hà Văn T có 02 lần bị kết án về tội “đánh bạc” chưa được xoá án tích.
[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, là chứng cứ buộc tội lẫn nhau và hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện T lập ngày 10/01/2024; Các biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện T lập ngày 10/01/2024; Biên bản kiểm tra điện thoại, dữ liệu hình ảnh trích xuất từ điện thoại di động do Công an huyện T lập ngày 10/01/2024; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị R.
[4]. Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự, an toàn công cộng, ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa trong khu dân cư, gây dư luận bức xúc trong nhân dân, là nguồn gốc gây ra các tai tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi hình sự, do hám lợi đã đánh bạc trái pháp luật, sát phạt nhau bằng tiền. Mặc dù biết hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
[5]. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Hà Văn T đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Phạm Đức D1, Trần Văn Đ2, Nguyễn Quang H2, Đoàn Xuân H, Đoàn Văn T3 đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 321. Tội đánh bạc
- Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 5 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
...
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000₫
[6]. Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều thống nhất tiếp nhận ý chí của nhau và cùng nhau thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hành. Bị cáo Hà Văn T tuy số tiền đánh bạc thứ 3 nhưng bị cáo có 02 bản án chưa được xoá án tích đều về tội đánh bạc do đó bị cáo là người giữ vai trò đứng đầu trong vụ án. Bị cáo Phạm Đức D1 là người dùng số tiền đánh bạc lớn nhất; bị cáo Trần Văn Đ2 sử dụng số tiền lớn thứ hai nhưng là người rủ bị cáo T3, H đánh bạc do đó bị cáo D1, Đ2 có vai trò ngang nhau và đứng thứ hai trong vụ án; Bị cáo Đoàn Xuân H là người chuẩn bị công cụ phương tiện cho các bị cáo khác đánh bạc, đã bị kết án, xử phạt hành chính về đánh bạc nên có vai trò thứ 3 trong vụ án. Bị cáo Nguyễn Quang H2 là người khởi sướng, rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác đánh bạc nhưng do không vay được tiền nên ngồi xem cổ vũ các bị cáo đánh bạc; bị cáo Đoàn Văn T3 là người tham gia đánh bạc với số tiền đánh bạc thấp nhất nên các bị cáo H2, T3 có vai trò ngang nhau và sau cùng trong vụ án.
[7]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo Hà Văn T có 02 lần bị kết án chưa được xoá án tích nhưng các tình tiết này đã là tình tiết định tội đối với bị cáo T. Do đó các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà tất cả các bị cáo được hưởng. Các bị cáo Phạm Đức D1, Trần Văn Đ2, Nguyễn Quang H2, Đoàn Văn T3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và các bị cáo đều có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, bị cáo Đ2 có bố được tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng 3 đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo D1, Đ2, H2, T3 được hưởng theo quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đoàn Xuân H là người khuyết tật đặc biệt nặng nên bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T, bị cáo H có nhân thân xấu, đã bị kết án, xử phạt hành chính. Các bị cáo khác đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu từ trước đến nay chưa bị xử phạt hành chính, kết án.
[8]. Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, vị trí và vai trò cũng như nhân thân của các bị cáo thấy: Sau khi xem xét đến vị trí, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX cân nhắc áp dụng hình phạt tương xứng.
[8.1] Bị cáo Hà Văn T có 02 lần bị kết án về tội đánh bạc, đến nay chưa được xoá án tích với cả hai bản án nên phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm cũng như việc bị cáo đã bị kết án về tội phạm khác. Xét thấy bị cáo T không thể tự cải tạo, vì vậy cần phải lên mức án phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
[8.2] Các bị cáo Phạm Đức D1, Trần Văn Đ2 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hiện tại các bị cáo đều có nơi cư trú ổn định, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo cũng như được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy việc không bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù không ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nên HĐXX áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách với các bị cáo cũng đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[8.3] Bị cáo Đoàn Xuân H tuy đã bị kết án, xử lý hành chính về hành vi đánh bạc nhưng đều đã được xoá án tích, lần phạm tội này bị cáo không trực tiếp tham gia đánh bạc mà chỉ có hành vi giúp sức cho các bị cáo đánh bạc, mặt khác bị cáo là người khuyết tật đặc biệt nặng, đã trên 60 tuổi và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó HĐXX áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo. Do bị cáo là người khuyết tật đặc biệt nặng và là người cao tuổi nên HĐXX không khấu trừ thu nhập với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ 06 ngày bị tạm giữ theo Quy định 1 ngày tạm giữ, tạm giam = 3 ngày cải tạo không giam giữ là: 6 x 3 = 18 ngày.
[8.4] Các bị cáo Nguyễn Quang H2, Đoàn Văn T3 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Bị cáo H2 không trực tiếp tham gia đánh bạc, bị cáo T3 được khen thưởng khi tại ngũ, sử dụng số tiền đánh bạc ít nhất và các bị cáo giữ vai trò sau cùng trong vụ án vì vậy HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 35 xử phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[8.5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo T, D1, Đ2 đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền vì vậy HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo này để sung ngân sách Nhà nước. Bị cáo H là người cao tuổi, bị khuyết tật đặc biệt nặng, đang được hưởng trợ cấp từ Nhà nước và các bị cáo H2, T3 được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính vì vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo H, H2, T3.
[9]. Trong vụ án: Có bà Đỗ Thị R là người trông coi, gìn giữ Nhà thờ họ Đoàn tại thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bà không biết việc các bị cáo đánh bạc tại nhà thờ vì đang trông cháu ở Hà Nội, không được hưởng lợi gì từ việc các bị cáo đánh bạc. Do đó cơ quan Công an không có căn cứ xử lý bà Đỗ Thị R là phù hợp.
[10]. Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự số tiền các bị cáo dùng đánh bạc cùng vật chứng đã thu giữ giải quyết như sau:
[10.1]. Số tiền 11.010.000₫ mà các bị cáo dùng đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền cần tịch sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 bộ bài chắn 100 cây, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 chiếu cói là công cụ các bị cáo dùng đánh bạc không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ.
[10.2]. Số tiền 2.500.000đ thu giữ của bị cáo Đoàn Văn T3. Đây là số tiền của bị cáo không dùng vào việc đánh bạc vì vậy cần trả lại cho bị cáo.
[10.3]. Đối với 05 điện thoại di động (01 iphone 12 Pro Max màu xanh, 01 S Galaxy A50S màu đen, 01 S Galaxy A51 màu bạc, 01 Nokia Moden 105 màu đen, 01 S1 Galaxy Note 9 màu đen) đã qua sử dụng. Đây là phương tiện các bị cáo dùng liên lạc rủ nhau đánh bạc cần tịch thu, hoá giá sung ngân sách Nhà nước.
[11]. Về án phí: Bị cáo H là người cao tuổi, bị khuyết tật đặc biệt nặng và có đề nghị miễn án phí vì vậy bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo khác phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Văn T, Phạm Đức D1, Trần Văn Đ2, Đoàn Xuân H, Nguyễn Quang H2 và Đoàn Văn T3 phạm tội "Đánh bạc".
- Về hình phạt:
- Áp dụng: điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hà Văn T, xử phạt: Bị cáo Hà Văn T 03 (ba) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024. Phạt bổ sung bị cáo Hà Văn T 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
- Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Đức D1, Trần Văn Đ2, xử phạt:
- + Bị cáo Phạm Đức D1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 28/5/ 2024. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Đức D1 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
- + Bị cáo Trần Văn Đ2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 28/5/ 2024. Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn Đ2 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
Giao các bị cáo: Phạm Đức D1, Trần Văn Đ2 cho UBND xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp những người được hưởng án treo trên thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật này.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 36; Điều 50; điểm p, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đoàn Xuân H, xử phạt: Đoàn Xuân H 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 18 ngày còn phải thi hành là 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện nhận được quyết định thi hành án.Giao bị cáo Đoàn Xuân H cho UBND xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án Hình sự.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Quang H2, Đoàn Văn T3, xử phạt:
- 2.4.1 Bị cáo Đoàn Văn T3 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- 2.4.2 Bị cáo Nguyễn Quang H2 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 11.010.000 (mười một triệu không trăm mười nghìn) đồng.
- Tịch thu, hóa giá sung Ngân sách nhà nước 05 điện thoại di động (01 Iphone 12 Pro max màu xanh, 01 S Galaxy A50S màu đen, 01 S Galaxy A51 màu bạc, 01 Nokia Moden 105 màu đen, 01 S Galaxy Note9 màu đen) đã qua sử dụng.
- Tịch thu, tiêu huỷ: 01 bộ bài chắn 100 cây, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 chiếu cói đều đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Đoàn Văn T3 số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng.
(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận ngày 01/4/2024).
- Về án phí: áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Đoàn Xuân H không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Buộc các bị cáo Hà Văn T, Phạm Đức D1, Trần Văn Đ2, Nguyễn Quang H2 và Đoàn Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Đỗ Thị R có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
*Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi |
Bản án số 45/2024/HS - ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tội đánh bạc
- Số bản án: 45/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tội đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Mạnh Th và đp phạm tội
